Lạm phát tại Việt Nam tăng

0


Mức giá tiêu dùng trong tháng 10 tại Việt Nam tăng với tỉ lệ cao nhất trong 4 tháng qua, khiến công tác hoạch định chính sách của chính phủ càng gặp nhiều khó khăn hơn trong lúc kinh tế tiếp tục tăng trưởng chậm.

Số liệu thống kê của chính phủ đưa ra hôm nay cho thấy chỉ số giá tiêu dùng tháng 10 tăng 7% so với cách đây một năm, tức cao hơn mức tăng 6,48% của tháng 9. Tính theo tháng thì chỉ số giá tiêu dùng của tháng 10 này tăng 0,85% so với tháng 9.

Tờ The Wall Street Journal nói rằng chỉ số giá tiêu dùng Việt Nam có thế tăng đến 8% trong năm nay, đúng như dự báo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đưa ra hồi đầu tuần này.

The Wall Street Journal trích lời kinh tế gia Vương Quân Hoàng của tổ chức nghiên cứu DHVP Research ở Hà Nội nói rằng “Lạm phát tăng trong 5 tháng qua do chính phủ cho phép giá cả trong ngành giáo dục và y tế tăng, nhưng tỉ lệ lạm phát được dự báo sẽ tăng chậm lại trong tháng 11 và tháng 12 bởi không có tác nhân nào khác đẩy giá cả lên trong lúc mức cầu hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế nội địa đang yếu đi.”

Một loạt đợt tăng mạnh lãi suất bắt đầu hồi năm 2011 đã chặn được lạm phát từng lên đến mức đỉnh là trên 20% hồi năm ngoái, nhưng đồng thời các biện pháp đó cũng kéo chậm lại tăng trưởng kinh tế.

Trong phát biểu hồi đầu tuần này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thừa nhận quản lý kinh tế “yếu kém” của chính phủ, và cảnh báo rằng tăng trưởng kinh tế năm nay chỉ đạt mức 5,2% so với mức 5,9% của năm ngoái. Và đó cũng sẽ là mức tăng trưởng thấp nhất của Việt Nam kể từ năm 1999.

Các số liệu này được đưa ra vào lúc Quốc hội Việt Nam đang nhóm họp kéo dài cả tháng và đang bàn luận đến nhiệm vụ điều chỉnh lại kế hoạch phát triển kinh tế cho cả nước.

Mức cầu trên thị trường Trung Quốc và Tây phương giảm đã ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam, trong khi đó hệ thống ngân hàng bị chìm ngập trong nợ xấu.

Kinh tế gia Vincent Conti của ngân hàng ANZ mới đây đưa ra nhận định trong một nghiên cứu nói rằng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn có thể cắt lãi suất thêm 0,1% nữa trong quý 4 để thúc đẩy tăng trưởng.

Ông Conti nói tiếp rằng gánh nặng nợ xấu của hệ thống ngân hàng, theo những con số chính thức là dưới 10% còn theo các nhà phân tích độc lập thì lên đến 15%, sẽ ảnh hưởng đến các chính sách tiền tệ, và khiến cho ngân hàng không muốn cho vay.
Đọc tiếp »

Kinh tế Việt Nam ‘hết hơi’

0

Đăng ngày   18-10-2012 | do  bvnpost  | Mục  > Tin tức, > Việt nam, >QUẢ ĐẤM THÉP VỤN, Khủng hoảng, Kinh tế

‘Kinh tế Việt Nam hết hơi’ là tiêu đề bài viết của hãng thông tấn Al Jazeera sau khi Ban chấp hành Trung ương Ðảng Cộng sản Việt Nam bế mạc Hội nghị 6 hồi đầu tuần này.

Bài viết nói rằng Việt Nam từng là một con hổ kinh tế ở Ðông Nam Á, một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trong số các quốc gia đang phát triển.

Năm 2007, Việt Nam đã thu hút được đầu tư nước ngoài nhiều hơn ba nước Philippines, Thái Lan và Indonesia gộp lại.

Nhưng trong những năm gần đây lạm phát tăng cao, và mới đây nhất Việt Nam đã bị hạ bậc tín dụng trên thị trường quốc tế.

Lạm phát tăng cao và thị trường nhà đất đóng băng đã góp phần làm tăng nợ xấu của ngân hàng.

Năm ngoái, ngân hàng trung ương đã đề ra kế hoạch tái cơ cấu ngành ngân hàng bằng việc sáp nhập và mua lại các ngân hàng yếu.

Tiến sĩ Jonathan Pincus, giám đốc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright tại Thành phố Hồ Chí Minh nói Hội nghị 6 “chọn phương án tiếp tục chính sách này – tái cơ cấu hệ thống tài chánh và doanh nghiệp nhà nước là những mục tiêu dài hạn, cho dù tiến bộ đạt được với tốc độ rất chậm”.

Tiến sĩ Pincus nói tiếp rằng “không có nhiều chi tiết được đưa ra, nhưng chúng ta có thể đoán rằng sẽ có thêm sáp nhập các ngân hàng, và áp lực tiếp tục đặt lên đầu tư tài chính.”

Kinh tế vẫn đạt tăng tưởng ở mức 4,7%, tuynhiên nhiều dự án xây dựng lớn bị chủ đầu tư bỏ dỡ cho thấy dấu hiệu Việt Nam không còn là con hổ kinh tế giống cách đây vài năm nữa. Và thị trường nhà đất sụp đổ đang để lại cho ngân hàng những đống hỗn độn.
Đọc tiếp »

Kinh tế Việt Nam bước vào quý 4 với những đấu hiệu đáng lo ngại

0

Đăng ngày   11-10-2012 | do  bvnpost  | Mục  > Tin tức, > Việt nam, Khủng hoảng, Kinh tế

Việc công ty chuyên đánh giá tín dụng Moody hạ bậc tín nhiệm tài chánh của Việt Nam mới đây là một đòn mạnh giáng vào nền kinh tế mà mới trước đó không lâu được xem là một trong những ngôi sao đang lên ở Ðông Nam Á.

Hệ thống ngân hàng vốn kém phát triển của Việt Nam đang bị chao đảo tiếp theo sau vụ bê bối dẫn đến việc nhiều nhân vật nổi tiếng trong ngành này bị nhà cầm quyền câu lưu, hoặc bị cách chức.

Bản tin hôm nay của Reuters nói rằng vấn đề cốt lõi là vẫn chưa có một động thái rõ rệt nào của Việt Nam nhằm chấm dứt tình trạng không minh bạch trong ngành tài chính–ngân hàng; các ngân hàng không rõ ràng về khả năng thanh khoản, ai là sở hữu chủ, và bao nhiêu lượng tiền gởi của khách hàng bị các tay trong của ngân hàng chiếm dụng làm việc riêng của họ.

Reuters trích lời cựu Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Cao Sỹ Kiêm, nay là thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, nói rằng “nếu không tăng cường minh bạch và kỷ luật trong ngành ngân hàng, thì cải cách ngân hàng cũng như đi săn vịt trời”.

Tân hoa xã hôm nay loan tin rằng đẩu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam 9 tháng đầu năm 2012 giảm mạnh cả về số dự án lẫn vốn đăng ký đầu tư.

Trong 9 tháng đầu năm nay, Việt Nam chỉ thu hút được 775 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, với tổng vốn đăng ký là 6,1 tỉ đôla, giảm 17,4% về số dự án, và 39% về vốn đầu tư.

Được kích thích bởi chính sách đổi mới hồi cuối thập niên 1980, kinh tế Việt Nam bắt được đà tăng trưởng mạnh, với thành tích đáng kể vào năm 2007 khi tăng trưởng đạt mức 8,5%.

Năm nay, chính phủ ước tính tăng trưởng kinh tế chỉ đạt mức 5,2%, thấp hơn mục tiêu được đề ra trước đó là từ 6% cho đến 6,5%.

Theo Tân Hoa Xã thì các nước khác trong khu vực Ðông Nam Á tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài cao hơn đáng kể so với Việt Nam trong năm nay.
Đọc tiếp »

Việt Nam bị hạ bậc tín nhiệm

0

Đăng ngày   28-09-2012 | do  bvnpost  | Mục  > Tin tức, > Việt nam, Khủng hoảng, Kinh tế

Tổ chức xếp hạng tín dụng Moody, trụ sở chính ở New York

Tổ chức đánh giá tài chính quốc tế Moody’s ngày 28/9 hạ bậc tín nhiệm của Việt Nam dẫn lý do những yếu kém trong hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Điểm tín nhiệm đối với trái phiếu chính phủ Việt Nam phát hành bị hạ từ B1 xuống thành B2. Điểm tín nhiệm dành cho tiền gửi ngoại tệ dài hạn cũng bị rớt từ B2 xuống B3.

Việc này có thể sẽ làm giảm tốc tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hơn nữa vì khả năng các ngân hàng cho vay tiền hỗ trợ hoạt động kinh tế sẽ kém đi.

Moody’s nêu bật tình trạng yếu kém của các ngân hàng trong nước hiện đang đối mặt với vấn đề nợ xấu ngày càng tăng. Tháng rồi, thống đốc ngân hàng trung ương Việt Nam cho biết tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng là từ hơn 8% tới 10%.

Các vấn đề trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay phát sinh từ thời điểm bùng phát tín dụng hồi năm 2009 và 2010.

Phần lớn các khoản cho vay bị xem là nợ xấu và tình trạng thiếu minh bạch trong hệ thống ngân hàng Việt Nam càng làm cho giới đầu tư không yên tâm.

Về triển vọng tín dụng dài hạn, Việt Nam được Moody’s đánh giá ở mức ‘ổn định’.

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam từ đầu năm tới nay giảm còn 4,73%, theo công bố của chính phủ hôm 27/9 trong khi lạm phát tháng này tăng 6,48% so với cùng thời gian năm ngoái.

Moody’s hạ điểm tín nhiệm của Việt Nam trong lúc giới hữu trách đang điều tra các bê bối, tiêu cực tại một trong những ngân hàng lớn nhất của Việt Nam là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu ACB.

Hàng loạt các quan chức cấp cao của ngân hàng này đang bị bắt và bị khởi tố.
Đọc tiếp »

Quan ngại về kinh tế Việt Nam gia tăng

0

Đăng ngày   19-09-2012 | do  bvnpost  | Mục  > Tin tức, > Việt nam, Khủng hoảng, Kinh tế

HÀ NỘI — Việt Nam dự định mở cửa thêm thị trường cho những công ty chứng khoán do các nhà đầu tư nước ngoài làm chủ. Kế hoạch này là một phần của một nỗ lực rộng lớn hơn nhằm tư nhân hóa các công ty quốc doanh và thu hút thêm đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên một loạt những vụ án tham nhũng lớn và vấn đề vật giá leo thang đang làm cho nhiều người Việt Nam cảm thấy lo âu. Từ Hà Nội, thông tín viên Marianne Brown của đài chúng tôi gởi về bài tường thuật sau đây.

Sau một thập niên có tỉ lệ tăng trưởng cao, kinh tế Việt Nam đã trở nên u ám đi nhiều trong vài năm qua. Những ngân hàng có nhiều nợ xấu, các doanh nghiệp nhà nước đầy dẫy tham ô và quản lý yếu kém, và tỉ lệ lạm phát cao đã mang lại những hậu quả tai hại.

Trong lúc các doanh nghiệp nhỏ gặp nhiều khó khăn trong việc vay vốn làm ăn và số người thất nghiệp mỗi ngày một nhiều, các nhà lãnh đạo ở Hà Nội đã hứa hẹn thay đổi. Tháng 7 vừa qua, chính phủ loan báo tái cấu trúc các tập đoàn lớn do nhà nước làm chủ, kể cả Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Tuy nhiên, vụ bắt giữ tỉ phú ngành ngân hàng Nguyễn Dức Kiên hồi tháng trước vì những tội phạm kinh tế chưa được tiết lộ đã làm lay động niềm tin của giới đầu tư và thị trường chứng khoán đã giảm giá mạnh.

Hồi đầu tháng này, trong một hành động mà một số nhà quan sát cho là để vực dậy thị trường chứng khoán, các giới chức chính phủ loan báo một nghị định cho phép các ngân hàng, các công ty chứng khoán và các công ty bảo hiểm nước ngoài hoạt động ở Việt Nam được mua 100% phần hùn của các công ty chứng khoán hiện có. Các nhà kinh tế học hoan nghênh kế hoạch này. Họ nói rằng kế hoạch này tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tư nhân hóa bằng cách khuyến khích cạnh tranh và tạo ra một sân chơi bằng phẳng hơn.
Đọc tiếp »

APEC cần hệ thống báo động sớm giữa nguy cơ khủng hoảng tài chính ở Việt Nam

0

Đăng ngày   10-09-2012 | do  bvnpost  | Mục  > Tin tức, Châu Á, Khủng hoảng, Kinh tế, __APEC

Trong tư cách nước chủ nhà của Hội nghị Thượng đỉnh APEC năm tới, Indonesia cho biết sẽ theo đuổi mục tiêu hợp tác và nhấn mạnh phải duy trì sức chịu đựng của khu vực để có thể vượt qua các cuộc khủng hoảng kinh tế.

Kinh tế và những vấn đề cần giải quyết

Indonesia đưa ra lời kêu gọi này trong bối cảnh có nguy cơ khủng hoảng tài chính xảy ra tại Việt Nam tiếp theo sau những xáo trộn trong hệ thống ngân hàng nước này do nợ xấu gây ra. Việt Nam là nước thành viên của Diễn Đàn Hợp Tác Kinh Tế khu vực Châu Á-Thái bình dương (APEC), và ASEAN, Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á.

Tổng Thống Indonesia Yudhoyono nói những đề nghị về hành động cụ thể của Indonesia sẽ giảm thiểu những lo sợ về khủng hoảng, bao gồm nhu cầu APEC cần phát triển một hệ thống báo động sớm để phát hiện các cuộc khủng hoảng tài chính tiềm tàng để có thể chuẩn bị các biện pháp cần thiết.

Hãng tin Bloomberg nói rằng Việt Nam đang có nguy cơ trở thành nền kinh tế Đông Á lớn nhất tìm kiếm một khoản vay của Quỹ tiền tệ Quốc tế để cứu nguy kinh tế, từ khi cuộc khủng hoảng tài chính giữa lúc Hà Nội đang đề ra những bước để hỗ trợ hệ thống ngân hàng đang gặp khó khăn của nước này.
Đọc tiếp »

Việt Nam rớt hạng về năng lực cạnh tranh toàn cầu

0

Đăng ngày   07-09-2012 | do  bvnpost  | Mục  > Tin tức, > Việt nam, Khủng hoảng, Kinh tế

Việt Nam sụt xuống hạng 75 trên tổng số 144 nền kinh tế trên thế giới được xếp hạng trong bảng đánh giá năng lực cạnh tranh toàn cầu 2012-2013 do Diễn đàn Kinh tế Thế giới WEF vừa công bố.

Vị trí thứ 65 của Việt Nam hồi năm ngoái hiện rơi vào tay Philippines.

12 tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh chia thành 3 nhóm gồm các yếu tố cơ bản, các yếu tố thúc đẩy hiệu quả kinh tế, và các yếu tố thúc đẩy sự đổi mới của nền kinh tế.

Trong số này, Việt Nam có số điểm rất thấp về các yếu tố cơ bản, ở hạng 91, và các yếu tố thúc đẩy sự đổi mới của nền kinh tế ở hạng 90. Về các yếu tố thúc đẩy hiệu suất kinh tế, Việt Nam ở hạng 71.

Theo WEF, trong 2 lần xếp hạng gần đây, Việt Nam sụt tổng cộng 16 hạng và là nước có thứ hạng thấp thứ nhì trong 8 nước Đông Nam Á được khảo sát, với tất cả các chỉ tiêu đều bị xếp dưới hạng 50 và rất nhiều hạng mục ở gần hạng 100.

Vẫn theo khảo sát này, trong năm 2011 vừa qua, lạm phát của Việt Nam gần 20%, gấp đôi năm trước đó, xếp hạng tín nhiệm nợ quốc gia cũng bị giảm.

Các chỉ tiêu khác mà Việt Nam cũng bị đánh giá thấp bao gồm cơ sở hạ tầng và việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Đứng đầu bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu 2012-2013 của WEF là Thụy Sĩ. Ðây là năm thứ tư liên tiếp quốc gia này dẫn đầu bảng. Kế đến là Singapore và hạng ba là Phần Lan.

Đọc tiếp »

Nỗi lo sợ về một cuộc khủng hoảng kinh tế đang dâng cao ở Việt Nam

0

The New York Times

Thomas Fuller
Lê Quốc Tuấn. X-CafeVN chuyển ngữ

Tại các thành phố lớn của Việt Nam, thị trường bất động sản từng một thời bùng nổ đang sụp đổ. Hàng trăm khu vực xây dựng bị bỏ rơi là những dấu hiệu rõ ràng nhất của một nền kinh tế ốm yếu.

Tuyên bố trong phòng khách tiết trang hoàng lộng lẫy của một tòa nhà thuộc địa Pháp, một viên chức cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, so sánh các vấn đề kinh tế của đất nước với sự sụp đổ của thị trường cách đây 15 năm từng san bằng nhiều nền kinh tế ở châu Á.

“Tôi có thể nói rằng đây là tình trạng tương tự như cuộc khủng hoảng ở Thái Lan vào năm 1997″, ông Hứa Ngọc Thuận, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Tp. HCM, cơ quan điều hành hàng đầu của thành phố nói như thế, “Các nhà đầu tư bất động sản đã đẩy giá lên quá cao. Họ mua để đầu cơ chứ không phải để sử dụng “.

Một trong nhiều công trình bị đình trệ ở Sài Gòn.

Các khó khăn kinh tế của Việt Nam trông có vẻ ít nghiêm trọng hơn so với những năm tháng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 – mặc dù tương đối xanh xao tiều tụy, nền kinh tế vẫn đang phát triển,, với tốc độ khoảng 4% – nhưng danh sách các khó khăn của đất nước vẫn tiếp tục tăng lên.

Việc bắt giữ Nguyễn Đức Kiên, một trong những doanh nhân giàu có của Việt Nam trong tuần này, đưa đến mức sụt giảm 4,8% trong chỉ số thị trường chứng khoán của nước này, mức suy giảm nặng nề nhất trong vòng bốn năm qua. Những cáo buộc chống lại ông Kiên còn mơ hồ. Các phương tiện truyền thông nhà nước cho biết ông bị buộc tội hoạt động kinh doanh bất hợp pháp.
Đọc tiếp »

Nợ xấu và mùa đông của suy thoái (phần 1)

0

Đăng ngày   27-07-2012 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, > Việt nam, >QUẢ ĐẤM THÉP VỤN, Blogger, Khủng hoảng, Kinh tế, Trần Vinh Dự

Trần Vinh Dự

Xét về mặt vĩ mô, Việt Nam đã tạm thời vượt qua giai đoạn nguy cấp nhất, khi hệ thống ngân hàng có nguy cơ đổ vỡ hàng loạt.

Lãi suất liên ngân hàng là một chỉ dấu quan trọng của hệ thống. Tại thời điểm cuối quý 3, đầu quý 4 năm ngoái, lãi suất liên ngân hàng lên rất cao, có thời điểm tới hơn 40%. Đó là dấu hiệu của tình trạng mất thanh khoản nghiêm trọng tới mức có thể phá sản bất kỳ lúc nào của nhiều ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng nhỏ.

Từ đầu năm trở lại đây, lãi suất liên ngân hàng đã giảm nhiều, hiện nay đã nằm ở mức một con số. Điều đó cho thấy mặc dù còn một số ngân hàng nhỏ vẫn trong vùng nguy hiểm, nhưng câu chuyện đổ vỡ hàng loạt có vẻ như đã được tạm thời loại bỏ.

Từ chỗ chênh vênh bên miệng núi lửa của khủng hoảng tài chính hồi nửa cuối năm ngoái, kinh tế Việt Nam đang đi dần vào một mùa đông lạnh giá của suy thoái toàn diện.

Mùa đông của suy thoái

Lạm phát đã hạ nhiệt, tốc độ tăng giá tiêu dùng trong 6 tháng qua chỉ có 2.52% so với mức tăng 13.33% của 6 tháng đầu năm 2011 và 3.37% của 6 tháng đầu năm 2010. Điều này không lạ vì giữa tăng trưởng tín dụng và lạm phát có quan hệ nhân quả rất chặt chẽ với độ trễ khoảng 6 tới 8 tháng. Việc lạm phát thấp tại thời điểm này là kết quả của việc thắt chặt tiền tệ – tín dụng từ khoảng tháng 4 tới tháng 12 năm ngoái.

Lãi suất ngân hàng nhờ các quyết định hành chính liên tục kế tiếp nhau của Ngân hàng Nhà nước đã giảm về mức thấp đáng kể so với năm ngoái. Lãi suất huy động không kỳ hạn về còn 9% trong khi lãi suất huy động có kỳ hạn nằm ở mức 12% – 13% và lãi suất cho vay chính thức giảm còn khoảng 15% – 17%.

Do lãi suất tiền Đồng trong suốt năm 2011 và 6 tháng đầu năm 2012 rất cao so với tốc độ trượt giá đồng tiền và việc nhà nước siết chặt quản lý kinh doanh ngoại hối ngoài luồng, sức ép về tỷ giá lên VND trong giai đoạn vừa qua không lớn. Tiền Đồng cơ bản giữ được giá trị sau đợt phá giá mạnh hồi tháng 2 năm ngoái.

Sự ổn định này phần nhiều mang tính tình huống và giả tạo. Lạm phát sẽ lại bùng phát trở lại một khi tín dụng tăng trở lại giống như kịch bản hồi năm 2010: Năm 2008 gặp lạm phát cao tương tự năm 2011. Năm 2009 lạm phát giảm do hiệu ứng độ trễ của chính sách thắt chặt vào cuối năm 2008, giống như những gì đang diễn ra hiện nay. Năm 2010 lạm phát vụt lên trở lại ở mức hai con số sau khi chính sách tiền tệ – tín dụng được nới lỏng một phần.

Lãi suất giảm trong thời gian qua phần nhiều là do các biện pháp hành chính. Trên thực tế, lạm phát đã giảm rất mạnh và Ngân hàng Nhà nước đã bơm khá nhiều tiền vào hệ thống ngân hàng thương mại và dư địa tín dụng được mở toang từ đầu năm nhưng hệ thống ngân hàng thương mại (mất thanh khỏa mạnh và nợ xấu trên 10%) vẫn phải cạnh tranh quyết liệt để dành dật nguồn tiền gửi. Vì thế lãi suất huy động vẫn cao hơn rất nhiều so với lạm phát.

Câu chuyện tranh cãi về lãi suất thực dương hay âm, sau hơn 1 năm, vẫn đối mặt với câu trả lời từ thực tế là lãi suất thực vẫn còn dương, và dương rất nhiều. CPI tháng 5 và tháng 6 vừa qua so với cùng kỳ năm ngoái lần lượt là 8.34%  và 6.9% trong khi lãi suất huy động trung bình vẫn còn ở mức hai con số. Điều này dẫn tới chuyện lãi suất cho vay có giảm nhưng còn xa mới nằm trong sức chịu đựng hợp lý của hệ thống doanh nghiệp.
Đọc tiếp »

QUẢ ĐẤM THÉP VỤN: Thêm 5 giới chức bị bắt trong vụ tham nhũng ở Vinalines

0

Đăng ngày   27-07-2012 | do  bvnpost  | Mục  > Tin tức, > Việt nam, >QUẢ ĐẤM THÉP VỤN, Khủng hoảng, Kinh tế, Quyền lực

Công an Việt Nam vừa bắt giữ thêm 5 giới chức có liên hệ tới vụ tham nhũng ở Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines).

Tin AP và AFP ngày 26/7 cho hay trong số 5 đương sự bị bắt hôm 25 tháng này có bà Nguyễn Thị Bích Loan, nguyên kế toán trưởng Vinalines.

Các đương sự bị điều tra về hành vi cố ý làm trái quy định nhà nước về quản lý kinh tế gây thất thoát ngân quỹ nhà nước gần 5 triệu đô la.

Nguyên Tổng Giám đốc Vinalines và phó giám đốc đã bị bắt hồi tháng 5.

Hiện công an đang truy nã cựu Chủ tịch công ty là Dương Chí Dũng.

Các nhà điều tra cho biết công ty Vinalines đã phí phạm gần 1 tỷ đô la trong việc thu mua các chiếc tàu hỏng, tốn nhiều chi phí sửa chữa và bảo trì.
Đọc tiếp »

Biểu tình chống các biện pháp kiệm ước ở Tây Ban Nha

0

Đăng ngày   14-07-2012 | do  bvnpost  | Mục  > Tin tức, E.U, Khủng hoảng, Kinh tế, Tây Ban Nha

Biểu tình tại thủ đô Madrid chống các biện pháp kiệm ước mà chính phủ vừa công bố.

Hàng trăm người biểu tình ở Tây Ban Nha tuần hành phản đối các biện pháp kiệm ước mới tại Madrid suốt đêm qua.

Người biểu tình tuần hành tới văn phòng của các chính khách trong đó có văn phòng Thủ tướng Marian Rajoy trước khi xảy ra đụng độ giữa một số người biểu tình với cảnh sát.

Người biểu tình phẫn nộ về kế hoạch kiệm ước của chính phủ trị giá 80 tỷ đô la trong đó có việc tăng thuế, hạ lương, và giảm trợ cấp thất nghiệp.

Các biện pháp kiệm ước mới này được đưa ra sau khi Tây Ban Nha được 16 nước sử dụng đồng Euro chấp thuận để nhận khoản tiền 36 tỷ đô la đầu tiên trong tháng này trong gói cứu nguy trị giá 122 tỷ đô la. Đọc tiếp »

Hơn 26.000 doanh nghiệp Việt Nam đóng cửa

0

Đăng ngày   05-07-2012 | do  bvnpost  | Mục  > Tin tức, > Việt nam, Khủng hoảng, Kinh tế

Hơn 26.000 doanh nghiệp Việt Nam đóng cửa trong nửa đầu năm nay

Vì không thể đối phó với những khó khăn phát sinh từ vụ khủng hoảng kinh tế toàn cầu, 26.340 doanh nghiệp Việt Nam đã ngưng hoạt động hoặc đóng cửa trong 6 tháng đầu năm nay, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm ngoái.

Bản tin hôm thứ Ba của Bernama trích thuật tin tức báo chí Việt Nam nói rằng từ tháng giêng đến tháng 6 đã có 4.105 doanh nghiệp phá sản, tăng 35,4%, và con số này cho thấy nhiều doanh nghiệp khó lòng tồn tại trong môi trường kinh doanh hiện nay.

Chỉ riêng trong tháng 6 đã có 4,110 công ty tuyên bố phá sản hoặc ngưng hoạt động. Trong số đó có 610 công ty bị giải thể.

Trong tổng số hơn 11.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, 232 doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động, 698 doanh nghiệp sắp giải thể vì thua lỗ hoặc vì những sự thay đổi trong môi trường đầu tư.

Khoảng 23.000 công ty do nhà nước làm chủ đã ngưng hoạt động trong khi có hơn 30.000 công ty quốc doanh khác có thể bị giải thể.

Một cuộc khảo sát do Tổng cục Thống kê Việt Nam thực hiện hồi gần đây cho thấy 27% các doanh nghiệp được thăm dò ý kiến nói rằng lãi suất cao là thách thức lớn nhất đối với công cuộc kinh doanh của họ và 19,5% cho rằng tỉ lệ lạm phát cao và những sự thay đổi của nền kinh tế thế giới là trở ngại chính.

Báo chí Việt Nam cho biết để hỗ trợ cho doanh nghiệp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã liên tục giảm lãi suất tiền vay từ đầu năm tới nay và đưa ra nhiều chính sách để doanh nghiệp có thể tiếp cận được vốn vay với lãi suất thấp. Đọc tiếp »

Đúng quy trình nhưng thiếu năng lực và trách nhiệm

0

Nguyễn Hưng Quốc
Mấy tuần lễ vừa qua, báo chí trong nước, từ lề trái đến lề phải, đang lùm xùm về vụ Đinh La Thăng và Dương Chí Dũng.

Dương Chí Dũng nguyên là Cục trưởng Cục Hàng hải. Trước đó, ông làm Chủ tịch Vinalines, một công ty vận tải đường biển quốc doanh làm ăn lỗ lã đến 1.686 tỉ đồng (Việt Nam), tức khoảng 80 triệu đô la Mỹ, trong vòng hai năm, từ 2009 đến 1010. Việc lỗ lã xuất phát từ bốn lý do chính: mua nhiều tàu cũ từ nước ngoài; nhiều khi cũ đến độ mua xong thì… bỏ; vi phạm nhiều hợp đồng khiến nhiều tàu thủy bị nước ngoài phạt với số tiền lớn, có khi lên đến hàng triệu đô la; đầu tư xây dựng vội vàng, thiếu quy hoạch và không hiệu quả; và, cuối cùng, “đầu tư tài chính sai nguyên tắc”.

Trong các sai phạm kể trên, nổi bật nhất là việc Vinalines mua ụ nổi No83M(chuyên dùng để nâng hạ tàu thủy) từ Nga, vốn được Nhật chế tạo từ năm 1965 và bị cơ quan đăng kiểm Nga cấm sử dụng vì đã quá thời hạn sử dụng đến 22 năm. Vậy mà Vinalines vẫn mua. Mua về, phải trả tiền thuê chỗ neo đậu mất 30 tỉ đồng; tiền sửa chữa và tiền lãi ngân hàng lên đến 100 tỉ đồng. Tổng chi phí dành cho cái ụ nổi phế thải này là 24 triệu đô la. Cuối cùng, nó vẫn nằm ụ một chỗ, không hoạt động gì được cả! Coi như bỏ.)

Những sai phạm trên không phải chỉ do sự bất tài trong quản lý mà chủ yếu còn xuất phát từ những sự tham ô. Người ta cố tình làm sai để lấy tiền bỏ túi. Chính vì thế, ngày 17/5/2012, Bộ Công an quyết định ra lệnh bắt Dương Chí Dũng. Nhưng dường như Dương Chí Dũng đã biết trước cái lệnh ấy. Nên vài giờ trước đó, ông đã bỏ trốn. Hiện nay, người ta vẫn chưa biết Dương Chí Dũng ở đâu.

Sự lỗ lã nghiêm trọng của Vinalines cũng như sự tham ô của Dương Chí Dũng dẫn đến trách nhiệm của Bộ Giao thông Vận tải, cơ quan chủ quản của cả Vinalines lẫn Cục Hàng hải, đặc biệt trách nhiệm của Bộ trưởng Đinh La Thăng, người đề nghị bổ nhiệm Dương Chí Dũng vào chức vụ Cục trưởng Hàng hải vào tháng 11 năm 2011 và cũng là người lãnh đạo trực tiếp của Dũng.

Có điều, cũng giống như mọi trường hợp tương tự ở Việt Nam, Đinh La Thăng hoàn toàn phủi tay. Ông tuyên bố ông không có lỗi gì cả. Ông khẳng định việc bổ nhiệm Dương Chí Dũng hoàn toàn “đúng quy trình”. Ông nêu lý do chính khiến ông quyết định thuyên chuyển Dương Chí Dũng từ chức Chủ tịch Vinalines sang làm Cục trưởng Hàng hải là vì lúc ấy Vinalines đang có mâu thuẫn trong nội bộ trầm trọng.

Do đó, việc làm của ông là “để cứu Vinalines”.
Khi được hỏi tại sao ông lại bổ nhiệm một người từng làm ăn thua lỗ và có dấu hiệu tham ô như vậy làm Cục trưởng, Đinh La Thăng giải thích là ông không biết những việc ấy. Ông chỉ căn cứ vào hai điều: Một, Dương Chí Dũng được “bầu vào Thường vụ đảng ủy khối doanh nghiệp trung ương”. Ông còn nhấn mạnh thêm: Đây là cách đánh giá chính thống của tổ chức.” Và hai, ông thấy Dũng “có khả năng hùng biện tốt.”

Tất cả những điều trên đã được báo chí khắp nơi tường thuật khá nhiều. Nhiều người tập trung vào tệ nạn tham nhũng ở Việt Nam, đặc biệt ở các công ty nhà nước, hoặc cụ thể hơn, trường hợp của Dương Chí Dũng. Một số người khác tập trung vào khả năng và tư cách của Bộ trưởng Giao Thông Vận tải Đinh La Thăng bằng cách xoáy sâu vào quy trình bổ nhiệm Dương Chí Dũng. Ở đây, tôi chỉ tập trung vào một khía cạnh khác: cách thức bổ dụng nhân sự trong guồng máy lãnh đạo Việt Nam.

Ở mọi chế độ dân chủ, trong việc bổ dụng nhân sự, điều người ta băn khoăn nhất là khả năng. Để đánh giá khả năng, người ta căn cứ chủ yếu vào kinh nghiệm và thành tích hoạt động trong quá khứ. Không phải chỉ xem xét trong lý lịch, người ta còn dò hỏi nhiều người ở các cơ quan cũ, nơi người ấy từng làm việc. Đối với những chức vụ quan trọng trong chính phủ, người đứng đầu cơ quan sẽ chịu trách nhiệm về việc lựa chọn và bổ nhiệm của mình. Điều đó được xem là một trong những năng lực của người lãnh đạo: năng lực đánh giá, phát hiện và sử dụng đúng tài năng. Không có nhà lãnh đạo nào có thể làm hết mọi việc.

Nhà lãnh đạo nào cũng cần có tướng và có quân, cần có người làm việc giúp mình. Một nhà lãnh đạo giỏi, do đó, trước hết, phải là người sử dụng người giỏi. Muốn sử dụng người giỏi, trước hết, phải biết phân biệt người giỏi và người không giỏi. Bởi vậy, ở Tây phương, khi một viên chức chính phủ cấp cao phạm sai lầm, người ta không những vạch trần sai lầm của người ấy mà còn truy cứu cả trách nhiệm của người tuyển lựa và lãnh đạo trực tiếp người ấy nữa.

Còn ở Việt Nam, tôi cho là ông Đinh La Thăng đã thành thực khi thừa nhận ông chỉ biết Dương Chí Dũng qua các chức vụ trong đảng và tài hùng biện của ông ấy. Tuy nhiên, từ đó, chúng ta sẽ thấy cái gọi là “quy trình” bổ dụng nhân sự ở Việt Nam rất quái đản. Nó rất bất bình thường. Nó không giống ai trên thế giới cả. Đứng đầu một công ty hoặc một cơ quan có chức năng kinh doanh thì những chức vụ trong đảng có ý nghĩa gì? Tài hùng biện có ý nghĩa gì? Vả lại nếu ông Dương Chí Dũng từng gây mâu thuẫn, mất đoàn kết trong nội bộ công ty Vinalines, nơi ông làm chủ tịch thì tại sao ông không bị trừng phạt mà lại được điều đi nơi khác? Ở nơi ấy, ông cũng lại gây mâu thuẫn và mất đoàn kết thì sao? Tại sao không ai ngó đến những lỗ hổng tài chính nghiêm trọng ở các cơ quan nơi ông ấy từng lãnh đạo? Bây giờ, nhìn lại, người ta mới phát hiện hầu như Dương Chí Dũng đến đâu ở đấy cũng đều bị thua lỗ nặng nề. Khi làm Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc Công ty Xây dựng đường thủy (thuộc Bộ Giao thông Vận tải) trong ba năm 2003-2005 thì ông làm lỗ gần 412 tỉ đồng. Làm ăn như thế, ông không những không bị phạt mà còn được thăng chức: năm 2005, ông được bổ làm Tổng giám đốc công ty Vinalines để trong mấy năm, mua 73 chiếc tàu cũ, làm lỗ 3.800 tỉ đồng nữa. Đến cuối năm 2011, ông lại được đề nghị thuyên chuyển công tác làm Cục trưởng. Nhà văn Nguyễn Quang Lập gọi Dương Chí Dũng là một người có tài: Tài gây tai họa!

Điều tôi muốn nói thêm: Với cách bổ dụng nhân sự như Đinh La Thăng và của giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay nói chung, những thứ tài gây tai họa như vậy chắc chắn là nhiều vô cùng. Ở đâu cũng có. Cấp nào cũng có.

Đó mới chính là một trong những tai họa lớn nhất của đất nước. Đọc tiếp »

IMF: Việt Nam nên chú trọng kiềm chế lạm phát thay vì giảm lãi suất

0

Đăng ngày   06-06-2012 | do  bvnpost  | Mục  > Tin tức, > Việt nam, Khủng hoảng, Kinh tế, __IMF

Theo tin hôm thứ Hai của Bloomberg, Quỹ Tiền tệ Quốc tế nói rằng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nên đặt ưu tiên cho việc kiềm chế lạm phát và thận trọng đối với việc hạ lãi suất thêm nữa sau khi đã giảm lãi suất trong 3 tháng vừa qua.

Ông Sanjay Kalra, đại diện thường trú của IMF ở Việt Nam, cho rằng chính phủ nên tập trung nỗ lực vào việc ổn định kinh tế ngay cả trong trường hợp điều này có nghĩa là phải chấp nhận một mức tăng trưởng thấp hơn.

Ông Kalra phát biểu hôm thứ Hai tại cuộc hội thảo ở Đông Hà rằng “Những mối rủi ro cho triển vọng phát triển của năm 2012 bao gồm sự mất tin tưởng của thị trường đối với xu hướng chính sách của chính phủ’ và vì vậy, “các chính sách của chính phủ cần phải đặt ưu tiên cho ổn định một cách khả tín.”

Cũng trong ngày thứ hai, các giới chức của Ngân hàng Thế giới nói rằng Việt Nam thường nới lỏng chính sách tiền tệ quá sớm và việc hạ lãi suất có thể làm cho áp lực giá cả xuất hiện trở lại trong vòng chỉ có 3 tháng.

Tuần trước, Việt Nam đã giảm lãi suất sang tới tháng thứ ba liên tiếp trong lúc các nhà hoạch định chính sách gia tăng các nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sau khi lạm phát giảm tới mức thấp nhất kể từ năm 2010.

Trong một thông cáo phổ biến hôm thứ hai tại cuộc hội thảo Đông Hà, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Minh Hưng nói rằng ngân hàng này sẽ điều chỉnh lãi suất theo hướng hạ thấp và có thể sẽ loại bỏ mức trần đối với lãi suất huy động bằng tiền đồng.

Ông Hưng nói thêm rằng lạm phát dự kiến sẽ được khống chế. Đọc tiếp »

Tái cơ cấu kinh tế – nghiêm túc hay không?

0

Trần Vinh Dự
Tái cấu trúc kinh tế là câu chuyện được nhắc đến nhiều từ khoảng 4 năm trở lại đây và hiện nay đã trở thành một trọng tâm về chính sách kinh tế của nhà nước.


Tái cấu trúc kinh tế là câu chuyện được nhắc đến nhiều từ khoảng 4 năm trở lại đây và hiện nay đã trở thành một trọng tâm về chính sách kinh tế của nhà nước.

Đề án dài 45 trang viết mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 17 tháng 4 vừa qua có vai trò là một kế hoạch tổng thể của Chính phủ nhằm tái cấu trúc về cơ bản nền kinh tế với mục tiêu giải quyết dứt điểm các khó khăn trong ngắn hạn và đặt nền móng bền vững cho sự phát triển trong trung và dài hạn.

Đáng tiếc là đề án này có vẻ như là một sản phẩm thiếu nghiêm túc và ngay từ đầu đã có cách tiếp cận không đúng.

Thiếu nghiêm túc ở chỗ những người đọc đề án này không khỏi có cảm giác rằng nó là một sản phẩm chắp vá, lắp ghép từ nhiều bài viết cũ và sự lắp ghép này là rất vụng về. Trong một bài trả lời phỏng vấn gần đây, Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh của trường Fulbright cũng cho rằng “đề án này được tổng hợp từ các đề án bộ phận, mà các đề án bộ phận đều được thực hiện khá vội vàng, trước sức ép cấp bách phải hành động của Chính phủ”. Theo Tiến sĩ Tự Anh, Chính phủ yêu cầu bốn đơn vị, bao gồm Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hang Nhà nước, và Ban Chỉ đạo đổi mới và phát triển Doanh nghiệp Nhà nước chuẩn bị ba đề án chỉ trong vòng hai tháng.

Hai tháng tuy không phải là thời gian dài, nhưng cũng không phải quá ngắn.Thế nhưng sản phẩm được công bố lại là một báo cáo có quá nhiều lỗi ngữ pháp và văn phạm, ngay cả tên một số đề mục cũng viết sai. Có vẻ như báo cáo này được chuẩn bị không tuân theo bất cứ một chuẩn mực văn phạm tối thiểu nào.

Cấu trúc của đề án rất lủng củng và nhiều phần hầu như không ăn nhập gì với nhau.Phần nói về thực trạng, bao gồm cả các yếu kém, viết khá dài, nhưng phần nguyên nhân của các yếu kém này lại chưa tới một trang giấy.Một đề án nhằm tái cơ cấu toàn bộ nền kinh tế nhưng không dựa trên việc phân tích thấu đáo các nguyên nhân dẫn đến việc phải tái cơ cấu thì cũng sẽ không thể đưa ra được các giải pháp thấu đáo để loại bỏ các nguyên nhân này.

Có quá nhiều tầng, nấc khác nhau khiến người đọc không khỏi có cảm giác những người soạn báo cáo không nắm vững vấn đề và vì thế trình bày một cách hết sức lan man. Riêng phần nói về tái cơ cấu (“TCC”), có hàng loạt các “layers” như mục tiêu của TCC, quan điểm chỉ đạo TCC, nội dung của TCC, định hướng của TCC, điều kiện tiền đề của TCC, và giải pháp để TCC.

Trong khi đó, về thực chất, báo cáo này đáng lẽ ra phải có một phần phân tích thật sâu các nguyên nhân dẫn tới các yếu kém nội tại. Từ đó, đề ra các nội dung chính cần phải tái cơ cấu, và các giải pháp cụ thể để triển khai các nội dung này.

Về nội dung của chương trình tái cơ cấu, báo cáo này đưa ra 5 nội dung, trong đó chủ yếu là 3 nội dung đã được Trung Ương Đảng và Chính phủ đưa ra từ năm ngoái. Năm nội dung tái cơ cấu hướng vào (1) các tổ chức tín dụng (chủ yếu là các ngân hàng thương mại), (2) thị trường chứng khoán và các định chế tài chính, (3) hệ thống doanh nghiệp nhà nước, (4) đầu tư (chủ yếu là đầu tư công), và (5) kinh tế ngành và kinh tế vùng.

Để thực hiện 5 nội dung này, báo cáo đưa ra tới 13 giải pháp, phần lớn là rất lan man và không tập trung vào các nội dung tái cơ cấu ở trên. Có vẻ như đây là hai phần viết của hai tác giả hoàn toàn khác nhau và không hề phối hợp làm việc với nhau để có một sản phẩm ăn khớp. Thí dụ, không hề có một giải pháp cụ thể nào được đưa ra cho nội dung tái cơ cấu (1) và (2) ngoài 1 dòng nhắc đến quyết định 254/2012-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Chỉ có 3 giải pháp trực tiếp liên quan đến 3 nội dung còn lại của chương trình tái cơ cấu.Những giải pháp còn lại đều là các giải pháp gián tiếp đưa ra cho có.
Đọc tiếp »

Bất ổn bao trùm thị trường thế giới sau các cuộc bầu cử Châu Âu

0

Đăng ngày   07-05-2012 | do  bvnpost  | Mục  > Tin tức, Châu Âu, Chính trị - xã hội, Khủng hoảng, Kinh tế, Thế giới

Chỉ số Nikkei của Nhật Bản giảm 2,8% lúc đóng cửa trong khi chỉ số Hằng Sinh của Hong Kong giảm 2,6% trong khi kết thúc ngày giao dịch

Tình trạng bất ổn bao trùm lên các thị trường tài chính thế giới sau khi các cuộc bầu cử ở Hy Lạp và Pháp gây quan ngại về tương lai của các biện pháp kiệm ước, được áp dụng để giúp ứng cứu các chính phủ nợ nần chồng chất và kinh tế yếu kém của châu Âu.

Các thị trường chính của châu Á giảm mạnh. Chỉ số Nikkei của Nhật Bản giảm 2,8% lúc đóng cửa trong khi chỉ số Hằng Sinh của Hong Kong giảm 2,6% trong khi kết thúc ngày giao dịch.

Thị trường chứng khoán Athens sụt 7% sau khi cuộc bầu cử quốc gia ở Hy Lạp khiến việc thành lập ngay lập tức một tân chính phủ rơi vào tình trạng không chắn chắn.

Thị trường chứng khoán Mỹ giảm giá lúc mở cửa ở New York. Thị trường Paris nhích lên cao hơn đôi chút, nhưng thị trường Frankfurt giảm mạnh.

Giá đồng euro giảm dưới 1,30 đôla trước khi tăng trở lại.

Với các cử tri Hy Lạp chia rẽ lá phiếu cho một loạt các đảng phái khác nhau, các nhà đầu tư đã cắt giảm nguồn đầu tư trên thị trường Athens.

Một nhà phân tích tài chính Platon Monokroussos nói tình trạng bất định chính trị đã ảnh hưởng lớn tới giao dịch chứng khoán.

Tại Pháp, các cử tri đã bỏ phiếu bầu ứng viên thuộc đảng Xã hội Francois Hollande làm tân tổng thống.

Ông Hollande từng kêu gọi giảm bớt quy mô các chương trình kiệm ước do Đức lãnh đạo thực hiện cho các nền kinh tế gặp khó khăn, đồng thời kêu gọi đánh thuế cao hơn đối với người giàu và các biện pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đọc tiếp »

Việt Nam cần có nhiều vụ phá sản hơn

0

Trần Vinh Dự
Kinh tế Việt Nam đang trải qua một giai đoạn đặc biệt khó khăn. Tại cuộc họp báo thường kỳ của Chính phủ đầu tháng 4 vừa qua, trong Quý 1 đã có hơn 2200 doanh nghiệp làm thủ tục giải thể, hơn 9700 doanh nghiệp đăng ký ngừng hoạt động có thời hạn hoặc dừng nghĩa vụ thuế. Trong khi đó số thành lập mới là 15300 doanh nghiệp.

Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trước đây mỗi Năm Việt Nam có khoảng 5000 tới 7000 doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể, hoặc phá sản. Tới năm 2011, số doanh nghiệp rơi vào tình trạng này lên tới 10000 doanh nghiệp mỗi Quý.

Số lượng doanh nghiệp rơi vào tình trạng ngừng hoạt động nhiều như vậy nhưng số doanh nghiệp thực tế đệ đơn xin phá sản chỉ đếm trên đầu ngón tay. Số liệu từ Tòa Kinh tế TPHCM cho thấy cả năm 2011 chỉ thụ lý 11 vụ phá sản doanh nghiệp; trong khi chỉ hai tháng đầu năm 2012 Cục Thuế TPHCM công bố có đến trên 3.100 doanh nghiệp ngừng hoạt động.

Câu hỏi là tại sao lại có ít vụ phá sản như thế ở Việt Nam?

Được chia mất tự chịu

Đứng về góc độ kinh tế, hình thức doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn, và sau này là cổ phần, cùng với luật về phá sản là một sáng tạo độc đáo của loài người. Nó tạo ra một sân chơi mới rộng lớn và an toàn để tất cả mọi người có thể tham gia làm giàu cho mình và cho xã hội mà không phải lo mất trắng.

Mỗi cá nhân khi bước chân vào thị trường lao động thường có hai lựa chọn – hoặc là đi làm cho người khác để hưởng lương, hoặc trở thành một doanh nhân. Người ta chỉ chọn trở thành doanh nhân khi họ cho rằng thu nhập kỳ vọng từ công việc này cao hơn. Thu nhập kỳ vọng này bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố về thị trường, khả năng của doanh nhân về ý tưởng, sản phẩm, năng lực triển khai, tài chính…, và các chính sách của nhà nước.

Trong trường hợp một doanh nhân thành công, thì không chỉ có doanh nhân này được hưởng lợi. Nhà nước và xã hội được lợi thông qua thu thuế. Người lao động được hưởng lợi thông qua việc có công ăn việc làm. Người tiêu dùng được hưởng lợi vì có sự lựa chọn sản phẩm hoặc dịch vụ đa dạng hơn. Thế nhưng khi một doanh nhân thất bại, nếu không có hình thức trách nhiệm hữu hạn và luật về phá sản, thì toàn bộ rủi ro từ hoạt động kinh doanh sẽ rơi xuống đầu doanh nhân đó. Nói các khác, rủi ro thì hưởng trọn, mà lợi ích thì phải chia ra.

Trong những trường hợp như vậy, số lượng người dám “liều” làm kinh doanh sẽ ít hơn mức tối ưu cho xã hội. Trên thực tế, phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ thất bại sau một thời gian ngắn. Theo Cơ quan Quản lý Doanh nghiệp Nhỏ Hoa Kỳ (SBA), hơn 50% các doanh nghiệp mới thành lập sẽ biến mất trong vòng 5 năm. Một nghiên cứu khác của tạp chí Inc. và Hiệp hội Hỗ trợ Doanh nghiệp Quốc gia (National Business Incubator Association) cho thấy hơn 80% doanh nghiệp sẽ thất bại trong vòng 5 năm kể từ ngày thành lập. Thống kê ở New Zealand cũng cho thấy 53% số doanh nghiệp mới thành lập sẽ thất bại trong vòng 3 năm.
Đọc tiếp »