Khi quan Cộng sản quỳ gối vái dân

0

Đăng ngày   16-05-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, > Tham nhũng, > Trung quốc, Blogger, Bùi Tín, Chính trị - xã hội

Bùi Tín

Bí thư đảng ủy đảng Cộng sản khu công nghiệp Tân Giang Trương Ái Hoa quỳ xuống xin lỗi người dân.

Ngày 19 tháng Tư, vài chục quan chức của thành phố Thái Châu, tỉnh Giang Tô (Trung Quốc), tổ chức một buổi tiệc lớn trong khu công nghiệp Tân Giang đang được mở rộng. Đây không phải là một sự kiện đáng được dư luận chú ý, nếu không có những diễn biến mà ấn bản Tiếng Anh Shanghai Daily của Thượng Hải Nhật Báo (số ra ngày 20 tháng Tư) nói là đã xảy ra sau đó.

Theo bản tin tiếng Việt của Nguyên Thúy dựa trên một bài tường thuật trên mạng China.org.cn và được đăng trên báo mạng Việt Nam Thanh Niên.online ngày 23 tháng Tư thì sau đây là những sự kiện đã gây chấn động trong dư luận địa phương:

Trong lúc bữa tiệc đang diễn ra trong phòng ăn lớn sang trọng của trụ sở Ban Quản lý Khu công nghiệp, hơn 1000 nông dân bất ngờ kéo tới tập trung trước cổng lớn. Kế đó họ đóng cổng không cho ai ra vào, rồi hò hét, giương biểu ngữ chống tham quan ô lại do chính đảng CS TQ đề xướng, đoạn xông vào giữa phòng tiệc, đồng thanh hô khẩu hiệu đả đảo tham nhũng.

Hoảng hốt trước khí thế căm giận hừng hực của dân chúng, các lực lượng bảo vệ lủi mất, có người đứng vào hàng ngũ những người phản đối. Quá khiếp sợ, quan chức cấp cao nhất trong bữa tiệc là bí thư đảng ủy đảng Cộng sản khu công nghiệp Tân Giang Trương Ái Hoa đột nhiên quỳ xuống, khiến các quan lớn nhỏ khác phát hoảng cũng quỳ theo,và tất cả đã vái lạy quần chúng nông dân, xin tha tội chết. Bài báo ghi lời của quan lớn họ Trương như sau: «Chúng tôi sai, các ông các bà bảo chúng tôi làm gì cũng được, nhưng xin cho chúng tôi ra khỏi nơi này ».
Đọc tiếp »

Nguyễn Hưng Quốc: Tôi không chống Cộng

0

Đăng ngày   09-05-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, Blogger, Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc
Ở cả hai lần bị cấm nhập cảnh vào Việt Nam (11/2005 và 4/2009), tôi đều không nhận được lời giải thích thỏa đáng nào từ chính quyền Việt Nam. Nhưng tôi nghe được phong thanh đâu đó: người ta cho là tôi “chống Cộng”. Mà không phải từ phía chính quyền, một số bạn đọc ở hải ngoại, ngay cả những người có vẻ có cảm tình với tôi cũng thường nói: Tôi “chống Cộng”. Riêng tôi, xin nói một cách thành thực: Tôi không hề chống Cộng.

Viết thế, tôi biết nhiều bạn đọc sẽ ngạc nhiên. Tuy nhiên, trước khi đánh giá (hay chụp mũ), xin đọc tiếp phần giải thích phía dưới.

Tôi nói tôi không chống Cộng vì hai lý do chính:

Thứ nhất, tôi không thích chữ “chống”. “Chống”, trong tiếng Việt, khác với các từ hoặc từ tố được xem là tương đương trong tiếng Anh như “fight”, “against”, “counter-” hay “anti-”, thường gợi lên hai ấn tượng chính: một, gắn liền với tổ chức, và hai, có tính chất bạo động. Tôi không thích cả hai. Với bạo động, tôi tuyệt đối không thích. Với tổ chức, tôi trân trọng và nghĩ nó cần thiết, hơn nữa, một nhu cầu tất yếu trong đời sống xã hội, nhưng tôi lại không thích nằm trong bất cứ một tổ chức nào; thậm chí, tôi cũng chưa từng đi biểu tình hay ký tên vào bất cứ một kiến nghị chung nào (1), dù, trên nguyên tắc, có thể tôi đồng tình và ủng hộ những việc làm ấy. Tôi không làm những việc ấy chỉ vì một lý do đơn giản: Tôi không thích ở trong “đội ngũ”, dù lâu dài hay tạm thời, chính thức hay không chính thức. Vậy thôi. Khác với Chế Lan Viên, tác giả của câu thơ “Khi đứng riêng tây, ta thấy mình xấu hổ”, tôi chỉ thích đứng một mình. Khi phê phán bất cứ điều gì, tôi chỉ đứng từ góc độ một người trí thức; mà trí thức, tự bản chất, nói theo Edward W. Said, là kẻ lưu vong, nghĩa là, nói cách khác, một mình. Viết, tôi chỉ nhân danh chính mình và những gì mình tin là đúng. “Lực lượng” của tôi chỉ có sách vở và kinh nghiệm, kiến thức và lý trí, lương tâm và lương thức. Còn phương tiện, trước, với cây bút; sau, với bàn phím: Ở cả hai nơi, tôi chỉ có chữ. Hết.

Thứ hai, quan trọng hơn, ở thời điểm bây giờ, theo tôi, nói chống Cộng là nói chống cái không có, hay đúng hơn, cái không còn hiện hữu nữa.
Đọc tiếp »

Luận văn ở đại học: Đọc và ghi chép

0

Đăng ngày   09-05-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, Blogger, Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc
1. Đọc như thế nào?

Dựa theo cách chỉ dẫn trong bài “Luận văn ở đại học: Tìm tài liệu”, sinh viên có thể tìm ra cả hàng chục cuốn sách cần phải đọc. Cho dù đã biết rõ cái gì cần đọc trước, cái gì cần đọc sau thì sinh viên vẫn phải đối diện với một vấn đề khác: làm sao để có thể đọc hết ngần ấy tài liệu? Sinh viên chỉ có mấy tuần để viết luận văn. Trong mấy tuần ấy sinh viên phải đi học, phải làm các bài tập và phải viết nhiều bài luận văn khác nhau. Làm sao để có thể đọc đủ các tài liệu cần thiết được?

Dĩ nhiên là có cách. Cách ấy nằm trong cách đọc của chúng ta. Nói chung, có ba cách đọc chính:

  • nghiền ngẫm
  • đọc lướt
  • đọc nhảy

1.1. Nghiền ngẫm:
Nghiền ngẫm là cách đọc từ từ, chậm rãi, cẩn thận; đọc từ trang đầu đến trang cuối, vừa đọc vừa suy nghĩ để hiểu hết mọi khía cạnh của vấn đề; vừa đọc vừa ghi chép. Đây là một cách đọc để học, chứ không phải để giải trí hay chỉ để cốt tìm tài liệu. Đối với bất cứ vấn đề gì, sinh viên cũng cần nghiền ngẫm ít nhất là vài tài liệu căn bản nhất, chủ yếu là các bài viết trong sách giáo khoa. Không có giai đoạn nghiền ngẫm này, sinh viên khó có thể nắm vững được vấn đề, do đó, khó mà nghiên cứu sâu rộng thêm được điều gì.

Nếu mỗi đề tài, sinh viên nghiền ngẫm khoảng hai chương sách, mỗi chương 20 trang, thì tổng cộng số trang cần phải đọc kỹ lên đến khoảng 40 trang. Nên thu xếp thì giờ để có khoảng một tuần lễ cho công việc này.

1.2. Đọc lướt:
Đọc lướt (skimming) là cách đọc thật nhanh, chỉ cần quét mắt lên các trang sách. Mục đích là để (i) nắm được đại ý của cuốn sách hay của bài báo; (ii) tìm hiểu cách nhìn của tác giả về vấn đề mình đang nghiên cứu để xem có thể sử dụng vào bài viết của mình được hay không; (iii) và để phát hiện những chi tiết trực tiếp liên quan đến đề tài của mình, những chi tiết mình có thể sử dụng trong bài viết.

Đọc lướt là đọc nhanh nhưng phải biết dừng lại ở một số trọng tâm. Các trọng tâm ấy là:
Đọc tiếp »

Vụ án và đạo luật Magnitsky

0

Đăng ngày   08-05-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, Blogger, Bùi Tín

Bùi Tín

Luật sư nhân quyền Nga Sergei Magnitsky

Quan hệ Hoa Kỳ – Nga đang trở nên khá căng thẳng.
Bất chấp những lời đe dọa và hành động ngăn cản ráo riết của bộ ngoại giao Nga, ngày 12/4/2013 Hoa Kỳ đã công bố danh sách 18 quan chức Nga sẽ không được cấp thị thực vào Hoa Kỳ và tài sản của họ trên đất Hoa Kỳ bị phong tỏa. Lý do? Họ bị Washington cáo buộc có dính dáng đến cái chết của Luật sư nhân quyền Nga Sergei Magnitsky trong một nhà tù ở Moscow tháng 11 năm 2009.

Vụ án Magnitsky khởi đầu từ năm 2008 khi Luật sư Sergei Magnitsky, lúc ấy 38 tuổi, tự đặt cho mình nghĩa vụ công dân chống bất công xã hội, tự mở cuộc điều tra thu lượm tài liệu, chứng cứ và công bố tình hình tham nhũng và gian lận, trốn thuế trong lãnh vực thuế khóa, cho rằng trong năm 2008 số tiền bị biển thủ, thất thu về thuế đã lên đến con số 250 triệu đôla. Ông cho biết ông có thể nêu tên một số quan chức các cấp của Nga đã phạm tội nếu chính quyền thật tâm chống tham nhũng.
Đọc tiếp »

Cộng đồng các nước Dân chủ

0

Đăng ngày   08-05-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, Blogger, Bùi Tín

Bùi Tín

Cựu Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan

Cộng đồng các nước dân chủ – Community of Democracies – là một tổ chức do Liên Hiệp Quốc khởi xướng từ năm 2000, đúng vào đầu thế kỷ 21, đến nay đã được hơn 12 năm. Hội nghị sáng lập ra tổ chức này được gọi là Hội nghị Varsawa do chính phủ Ba Lan tổ chức trong 3 ngày 25, 26 và 27 tháng 6 năm 2000 tại thủ đô Ba Lan. Hai nhà hoạt động chính trị có sáng kiến lập nên tổ chức quốc tế này là nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Ba Lan Branislaw Gérémek và nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Madeleine Albright.

Chính phủ 6 nước đầu tiên hưởng ứng sáng kiến trên đây gồm có: Chile, Tiệp Khắc, Ấn Độ, Mali, Bồ Đào Nha, và Nam Triều Tiên. Các nước này, cùng BaLan và Hoa Kỳ, được coi là 8 nước đồng sáng lập Cộng đồng các nước Dân chủ.

Hội nghị Varsawa đã thông qua Tuyên bố Varsawa nêu lên tôn chỉ và mục đích của Cộng đồng các nước Dân chủ, chỉ rõ những nguyên tắc và nội dung thực thi dân chủ cơ bản là:

– bầu cử tự do, bình đẳng, công bằng;
– tự do ngôn luận, tự do chính kiến;
– tự do tụ tập hòa bình.

Đọc tiếp »

Tháng Tư

0

Đăng ngày   02-05-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc

Xe tăng của quân đội miền Bắc Việt Nam tiến vào dinh Ðộc Lập ngày 30/4/1975.

Tôi có tật ít nhớ ngày và nhớ tháng. Tôi chỉ nhớ thứ: Thứ hai, Thứ ba, Thứ tư, v.v.. Có lẽ lý do chính là vì tôi dạy học. Điều quan trọng nhất đối với người đi dạy là nhớ thứ mấy mình dạy từ mấy giờ đến mấy giờ. Thời khóa biểu in và dán trên bức tường ngay trước mặt cũng chỉ ghi giờ và ghi thứ. Còn ngày? Chả có gì quan trọng cả. Trừ ngày lễ, dĩ nhiên. Về tháng, tôi không để ý mấy, chủ yếu là do thời tiết ở Úc. Xin lưu ý, bình thường, đối với con người, tháng chỉ là một ý niệm khá trừu tượng, chỉ có mùa là cụ thể. Bởi nó gắn liền với khí hậu. Với những cơn nóng và cơn lạnh. Với những chiếc máy quạt (hoặc máy lạnh) và những chiếc áo ấm. Sống ở Việt Nam từ nhỏ đến trưởng thành, với tôi, tháng giêng, chẳng hạn, gắn liền với mùa xuân, với sự mát mẻ, với câu thơ của Xuân Diệu “tháng giêng ngon như một cặp môi gần”; tháng sáu, bảy và tám, với sự oi bức và với mùa nghỉ hè; tháng mười hai, với giá rét, với mùa đông và với Giáng sinh, hoặc (theo lịch ta), với Tết. Mối quan hệ ấy đã trở thành nếp trong đầu, hơn nữa, trên da thịt. Ở Úc thì khác. Tháng một lại là mùa hè và là mùa nghỉ hè; tháng sáu và bảy lại dịp nghỉ mùa đông. Mối quan hệ quen thuộc giữa tháng và mùa, bị lệch đi, chênh chao hẳn, khiến cho tôi, dù sống ở Úc cả mấy chục năm, cứ thường xuyên bị bối rối khi muốn nhớ đến tháng. Dĩ nhiên, nhìn trên lịch, vẫn biết. Nhưng cái biết ấy sao mà chông chênh, rất dễ bị vụt mất. Trong nhận thức, lúc nào cũng có cảm giác như đang bềnh bồng trong một không gian có mùa nhưng không có tháng.

Vậy mà, mấy tuần vừa rồi, tôi cứ hay bắt gặp mình, nhất là những lúc đang lái xe, lẩm nhẩm trong đầu bài thơ này của Nguyễn Khuyến:

Tháng Tư đầu mùa hạ
Tiết trời thực oi ả
Tiếng dế kêu thiết tha
Đàn muỗi bay lả tả
Nỗi ấy biết cùng ai
Nỗi này buồn cả dạ
Biếng nhắp năm canh chầy
Gà đã sớm giục giã.

Thoạt đầu, tôi không hiểu sao mình lại nhớ và ngâm nga bài thơ ấy. Thứ nhất, ở Úc, đang giữa mùa thu, trời bắt đầu trở lạnh, chả dính dáng gì đến mùa hạ cả. Thứ hai, đó cũng không phải là một bài thơ hay của Nguyễn Khuyến. Ít nhất không hay bằng mấy bài ông viết về mùa thu. Sau, tôi mới sực nhớ, yếu tố khiến tôi bị ám ảnh không chừng chỉ nằm ở chữ “Tháng Tư”.

Có lẽ từ trong tiềm thức, tôi đang nhớ đến ngày 30 Tháng Tư.

Nhưng khi nhớ đến ngày 30/4 và câu thơ “Tháng Tư đầu mùa hạ” của Nguyễn Khuyến cùng lúc, tôi lại đâm ra nghĩ ngợi.

Với người miền Nam, và sau này, cộng đồng người Việt ở hải ngoại, biến cố 30/4 được gọi tên theo tháng: Tháng Tư, lúc chính quyền miền Nam bị sụp đổ. Thỉnh thoảng, với một số người miền Trung hoặc một số người lính tham chiến ở miền Trung, biến cố ấy còn có tên khác: Tháng Ba. Thật ra, tên Tháng Ba chỉ trở thành phổ biến chủ yếu nhờ một tác phẩm: cuốn Tháng Ba gãy súng của Cao Xuân Huy. Đó là một trong vài cuốn hồi ký chiến tranh hay nhất và được nhiều người đọc nhất ở hải ngoại. Nhà văn Cao Xuân Huy (1947-2010), Trung úy Thủy quân lục chiến, lúc ấy đang đóng quân ở Quảng Trị. Đơn vị của ông bị vỡ trận ở đó, hơn một tháng trước khi Sài Gòn thất thủ. Tuy nhiên, chữ Tháng Ba rõ ràng không phổ biến bằng chữ Tháng Tư. Gọi Tháng Tư, chưa đủ, người Việt ở hải ngoại thêm một tính từ phía sau, thành “Tháng Tư Đen”. Cụm từ “Tháng Tư Đen” trở thành nhan đề của khá nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật, kể cả ca khúc, hơn nữa, của một số cuốn sách của người Tây phương, ví dụ, gần đây nhất, cuốn Black April: The Fall of South Saigon, 1973-75 của George Veith (2012). Đánh mấy chữ “tháng tư đen” trên Google, chúng ta sẽ thấy hiện lên cả trên một triệu kết quả.
Đọc tiếp »

Đất nước cựa mình làm nên lịch sử

0

Đăng ngày   02-05-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, Bùi Tín

Bùi Tín
38 năm đã qua kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử, «ngày hàng triệu người vui, hàng triệu người buồn», như nhiều người thường nói và thường nghĩ.

Đất nước bước vào thế kỷ mới – thế kỷ XXI – được hơn mười năm.

Tình hình hiện nay của đất nước ra sao? Đáng vui hay đáng buồn ? Rất nên là vấn đề giao lưu, tranh luận, đối thoại. Nhất là với các anh chị em tự khẳng định là «những công dân tự do» đang vẫy gọi nhau đến dự cuộc họp dã ngoại công khai ngày 5 tháng 5 tới ở Hà Nội, Sài Gòn, Nha Trang, có thể cả ở Đà Nẵng và Huế.

Với bài viết này, tôi xin được góp phần nhỏ bé của mình vào cuộc họp dã ngoại ấy ở trong nước, rất mong được các bạn trẻ bên nhà giúp tán phát và nếu có thể cho một vài hồi âm.

Đảng Cộng sản VN năm nay đang ở trong trạng thái nào? Đây là vấn đề rất nên luận bàn cho ra lẽ vì đảng CS tự nhận là lực lượng duy nhất cầm quyền hiện nay, và đang cố giữ khư khư Điều 4 của Hiến pháp như lá bùa hộ mệnh của mình, khi chính họ thừa nhận rằng niềm tin của nhân dân đối với đảng đã sa sút tệ hại do toàn đảng đã suy thoái một cách thảm hại không sao kìm hãm nỗi.

Điều trên đây, ai cũng thấy, và thấy quá rõ. Trong chiến tranh, do bị cách ly với thế giới, lại do bị tuyên truyền kiểu nhồi nhét một chiều, người dân thường bị đảng mê hoặc, coi đảng CS là «đảng ta», coi chế độ độc đảng là «chế độ ta», đồng hóa đảng CS với nhân dân và dân tộc. Nay thì không còn gì như trước nữa. Người dân thường nay gọi đảng CS là «họ», là «các ổng», có khi «là bọn chúng», «bọn họ», là «chúng nó», khác hẳn thời nhẹ dạ cả tin ngày xưa. Mà chính lãnh đạo đảng CS cũng xa rời nhân dân, coi nhân dân là kẻ thù, cắt cầu rút ván với trí thức, với nông dân, với tuổi trẻ, với lao động, với bà con các tôn giáo, không thèm giao lưu, đối thoại.
Đọc tiếp »

Nhân ngày 30-04 nghĩ gì về bức công hàm PVĐ 1958 ?

0

Đăng ngày   02-05-2013 | do  bvnpost  | Mục  >  TỔ QUỐC, > Blogs, > HS-TS-VN, Lê Quốc Trinh

Lê Quốc Trinh

A – Lời mở đầu
 
Bài viết này không có chủ ý biện hộ hay kết án cố thủ tướng Phạm Văn Đồng về sự kiện “bức công hàm 14/09/1958 liên quan đến HS-TS”, và cũng không muốn bàn tán thêm về chủ đề chủ quyền VN trên hai quần đảo này vì đã có quá nhiều luật gia và học giả khắp nơi ra sức tranh luận từ hơn 5 năm qua trong các trang mạng Internet.
 
Bài viết xin phép được trình bày một cách nhìn khác trung thực và sâu xa hơn về vấn đề Biển Đông nói riêng và lịch sử cận đại VN nói chung, trong đó Đảng Cộng Sản Việt Nam nam giữ một vai trò chủ chốt vô cùng quan trọng.
 
B- Dẫn chứng lịch sử VN xung quanh bức công hàm PVĐ 1958
 
Những dẫn chứng lịch sử xung quanh sự kiện HS-TS không có nhiều, thật ra chỉ có hai văn kiện chính thức mà mọi người có thể truy tìm trên Google một cách dễ dàng, tôi xin phép được trích dẫn ra đây hai bản văn kiện tối quan trọng, đó là:
 
1)- Văn kiện 1: Bức công hàm do cố thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ký ngày 14/09/1958 lên tiếng ủng hộ tuyên bố của chính phủ Trung Quốc liên quan đến giới hạn và khu vực hải phận của TQ. Văn kiện này chính ông PVĐ đích thân ký tên, mang quốc huy, quốc hiệu VCDCCH, con dấu chính phủ, và do chính tay cố ngoại trưởng VN Ưng Văn Khiêm trao tay cho người đồng nhiệm phía TQ. Sau do công hàm PVĐ được nhật báo Nhân Dân chụp ảnh, in ấn nguyên bản và đăng công khai để người dân miền Bắc biết. Tuy nhiên không hề thấy báo Nhân Dân chụp ảnh và đăng “bản tuyên bố chủ quyền đất đai và vùng hải phận của TQ” mà công hàm PVĐ đã ghi nhận.

Đọc tiếp »

Luận văn ở đại học: Tìm tài liệu

0

Đăng ngày   28-04-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, Giáo dục, Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc
Sau khi phác thảo dàn bài sơ khởi, sinh viên đã biết phần nào những tài liệu mình cần. Vấn đề là: tìm những tài liệu ấy ở đâu? Một số khá đông sinh viên có thói quen hay than thở: tài liệu liên quan đến đề tài mình viết quá hiếm hoặc thậm chí không có. Lời than thở ấy thường ít khi đúng sự thật.
Lý do là khi ra đề, phần lớn các thầy cô giáo đã kiểm tra trước để xem nguồn tài liệu mà sinh viên sẽ sử dụng cho bài viết của họ có đủ hay không.
1. Tìm tài liệu ở đâu?

Những cái được gọi là tài liệu thường rất đa dạng, bao gồm các dạng chính sau:

  1. Bài giảng ghi trong lớp (lecture notes)
  2. Sách giáo khoa (textbooks)
  3. Từ điển chuyên ngành (discipline dictionaries)
  4. Từ điển bách khoa (encyclopedia)
  5. Sách liên hệ đến đề tài
  6. Tạp chí
  7. Internet

a. Bài giảng ghi trong lớp:

Đây là tài liệu đầu tiên mà sinh viên cần đọc. Nó sẽ cung cấp cho sinh viên những thông tin căn bản nhất. Nó lại dễ hiểu hơn so với các loại tài liệu viết khác vì khi giảng trong lớp, các thầy cô giáo thường quảng diễn, cho nhiều ví dụ, vừa tầm với trình độ của sinh viên. Tuy nhiên, khi sử dụng bài giảng trong lớp, sinh viên

(i) nên xem đó như là một sự gợi ý tốt, chứ không nên chép nguyên vẹn bài giảng hay một phần của bài giảng vào luận văn của mình. Đó chỉ là cách làm của học sinh trung học. Nó dễ làm cho giáo sư có ấn tượng là mình lười biếng, thiếu công phu hoặc phương pháp nghiên cứu.

(ii) khi sử dụng một vài thông tin trong bài giảng thì khỏi cần ghi xuất xứ, khỏi cần ghi, đại khái kiểu “Theo bài giảng của thầy Nguyễn V.A. trong lớp ngày 20.4.2013…” vì hai lý do: một là, không có gì chắc mình hiểu đúng và ghi đúng ý của thầy cô giáo; hai là, kiến thức thầy cô giáo giảng trong lớp phần nhiều là thứ kiến thức tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau, chứ chưa chắc đã là sáng kiến riêng của họ. Dĩ nhiên, nếu những bài giảng ấy đã được thầy cô giáo biên soạn và xuất bản chính thức thì việc ghi xuất xứ sẽ là điều bắt buộc.
Đọc tiếp »

Từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn

0

Đăng ngày   27-04-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, Blogger, Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc

Hai nghi can khủng bố Tamerlan Tsarnaev và Dzhokhar Tsarnaev trong đám đông gần mức đến của cuộc đua marathon ở Boston, ngày 15/4/2013.

Sau vụ đặt bom tại Boston ngày 15/4 cũng như cuộc truy lùng thủ phạm ngay sau đó, có khá nhiều điều chúng ta có thể học được. Ở đây, tôi chỉ xin nêu lên hai điều chính, một điều nhỏ và một điều lớn.

Xin nói chuyện nhỏ trước.

Vụ nổ bom tại cuộc thi marathon ở Boston xảy ra vào chiều Thứ Hai 15/4. Ba ngày sau, Thứ Năm 18/4, cơ quan FBI của Mỹ nhận diện được nghi phạm và công bố hình ảnh của hai nghi phạm trên các cơ quan truyền thông đại chúng cũng như các mạng xã hội. Việc công bố hình ảnh ấy khiến hai nghi phạm phải xuất đầu lộ diện. Ngay tối Thứ Năm, một trong hai nghi phạm đã bị bắn chết, và ngày hôm sau, Thứ Sáu 19/4, nghi phạm thứ hai bị bắt. Tổng cộng thời gian điều tra và giải quyết vụ án chưa tới năm ngày.

Nhớ, năm 1996, trong Olympic mùa hè, có một vụ nổ bom tại Atlanta, Georgia, Mỹ, làm cho một người chết và 111 người bị thương. Thoạt đầu, FBI nghi nhân viên an ninh, ông Richard Jewell, người báo tin về nguy cơ khủng bố, là thủ phạm. Cả tháng sau đó, họ mới nhận diện được thủ phạm chính là Eric Rudolph, và hai năm sau, hắn mới bị kết tội là thủ phạm của cuộc khủng bố trong một phiên tòa khiếm diện. Mãi đến tháng 5 năm 2003, Rudolph mới bị bắt và tháng 7 năm 2004 mới bị đưa ra tòa để cuối cùng lãnh án tù chung thân.

Tại sao cảnh sát và các cơ quan an ninh Mỹ tìm ra nghi phạm vụ nổ bom ở Boston nhanh chóng như vậy?

Lý do chính là nhờ các máy quay hình (video surveillance camera / CCTV camera) được đặt hầu như ở khắp nơi. Quốc gia có nhiều máy quay hình nơi công cộng nhất là Anh: Có khi chỉ trong một trạm xe lửa mà có đến 76 chiếc máy quay hình. Sau này Mỹ cũng đang cố gắng đuổi kịp Anh, ít nhất ở các thành phố lớn: Riêng khu Lower Manhattan ở New York đã có khoảng 3000 chiếc máy quay hình.

Tính chung, ở Anh và Mỹ, cứ mỗi 10 cư dân thì có một máy quay hình. Người ta ước tính mỗi người Anh trung bình bị chụp hình khoảng 300 lần một ngày. Bình thường, hiếm khi người ta xem các bức ảnh chụp được từ các máy quay hình ấy. Chỉ khi có biến cố gì đó, người ta mới lôi các thước phim ấy ra xem. Phim thường được quay từ nhiều góc độ và từ nhiều địa điểm khác nhau. Chỉ cần xem các thước phim ấy, người ta có thể lần ra ngay nghi phạm. Ví dụ, trong vụ đặt bom ở Boston, người ta nhìn thấy rõ ràng là có hai thanh niên, thoạt đầu, có đeo hai túi xách khá nặng sau lưng; nhưng sau đó, ở một nơi khác, nơi hai thanh niên ấy xuất hiện, hai túi xách ấy không còn nữa.
Đọc tiếp »

Mẫu số chung: Nhân quyền

0

Đăng ngày   27-04-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, >Nhân quyền-Tự do-Dân chủ, Bùi Tín

Bùi Tín

Gia đình nông dân Ðoàn Văn Vươn bị đưa ra xét xử tại Tòa án Nhân dân thành phố Hải Phòng, ngày 2/4/2013.

Các vấn đề thời sự Việt Nam nóng hổi hiện nay hầu như tập trung vào một mẫu số chung là Nhân quyền. Vụ án «Cống Rộc» vừa được xử sơ thẩm ở Hải Phòng, kết tội một cách khắc nghiệt những công dân lương thiện, nhẹ nhàng với các quan chức đảng tham ô là một bằng chứng sống động về tình trạng vi phạm nghiêm trọng Nhân quyền có hệ thống ở Việt Nam. Người công dân lương thiện cảm thấy bất an vì chính quyền và nền tư pháp độc đảng vẫn ngang nhiên chà đạp lên quyền sống tự do của con người.

Việc thảo luận về sửa đổi Hiến pháp theo kiểu cưỡng ép của lãnh đạo đảng Cộng sản, vừa đưa ra một bản dự thảo rồi coi mọi ý kiến khác biệt là suy thoái, là phản động, rồi cho phổ biến những con số bịa đặt, thổi phồng quá đáng – thoạt tiên là 20 triệu, kế đó là 22 triệu, phóng bừa lên 40 triệu, rồi 44 triệu ý kiến đồng tình – nay rút xuống còn 9 triệu, chỉ phơi bày thêm rõ nét tình trạng nhân phẩm, quyền tự do của con người bị chà đạp nghiêm trọng đến mức nào.

Cuộc đối thoại định kỳ về Nhân quyền giữa Hoa Kỳ và Việt Nam ngày càng nhạt nhẽo, đình đốn suốt năm 2012, cũng như quan hệ Việt Nam với Liên minh châu Âu gặp trở ngại cũng chỉ vì thành tích về Nhân quyền của Việt Nam đã liên tục tuột dốc trong 4 năm qua, khi đảng Cộng sản ngày càng ngả về phía Trung Quốc, giảm rõ nhiệt độ trong quan hệ với Hoa Kỳ và châu Âu. Lãnh đạo đảng Cộng sản không thể sử dụng chiến thuật ngoại giao «đi giây thăng bằng» giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ để che dấu chiến lược nhất quán «nhất biên đảo» của họ đối với Trung Quốc.
Đọc tiếp »

Trí thức và độc tài

0

Đăng ngày   20-04-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, >Chế độ độc tài, Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc
Đọc lịch sử các chế độ độc tài, từ độc tài phát xít với những Hitler và Mussolini đến độc tài cộng sản với những Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Nicolae Ceauşescu, và Kim Chính Nhật (bây giờ là Kim Chính Ân) hay độc tài quân phiệt với những Saddam Hussein, Muammar Gaddafi, Robert Mugabe…chúng ta không thể không ngạc nhiên.

Chân dung Kim Nhật Thành (Kim Il-sung, 1912-1994) và Kim Chính Nhật (Kim Jong-il, 1942-2011) tại Quảng trường Kim Il-Sung ở Bình Nhưỡng.


Có rất nhiều điều để ngạc nhiên.

Thứ nhất, tất cả các tên độc tài, dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau, đều vô cùng tham lam và độc ác. Chúng thâu tóm toàn bộ quyền lực trong tay và với quyền lực vô tận ấy, giết vô số người, từ những kẻ thù thực sự đến những kẻ thù tưởng tượng, trong đó phần lớn là chính dân chúng ở nước chúng.

Thứ hai, tất cả đều mắc bệnh huyễn tưởng, tự xem vị thế và quyền lực của mình như một thứ gì thuộc về thiên mệnh; và vì thiên mệnh, chúng nằm ngoài hoặc nằm trên không những luật pháp mà còn cả các nguyên tắc đạo lý thông thường của con người. Giết người, thậm chí, giết vô số người, với người khác, là tội ác; với chúng, là thiêng liêng và cao cả.

Thứ ba, vì căn bệnh huyễn tưởng ấy, rất nhiều nhà độc tài trở thành lố bịch, không khác những tên hề. Ceauşescu tự xưng mình là “Thiên tài của vùng Carparthians”, một vùng núi rộng lớn ở Trung Âu, kéo dài từ Slovakia qua miền Nam Ba Lan, miền Tây Ukraine đến tận phía Đông Bắc của Romania. Còn vợ của ông, Elena, người được cử làm Phó Thủ tướng, thì được tuyên truyền như một “Quốc mẫu”, một nhà khoa học vĩ đại (dù bà thực sự bỏ học từ năm 14 tuổi, và tất cả các cái gọi là “công trình khoa học”, kể cả luận án tiến sĩ của bà, đều do người khác viết). Rafael Trujillo, nhà độc tài ở Dominican Republic từ 1930 đến 1938 và từ 1942 đến 1952 thì tự xem mình là Thượng đế. Ông ta ra lệnh cho mọi nhà thờ trong nước phải khắc câu “Chúa ở trên Trời, Trujillo ở dưới Thế” (God in Heaven, Trujillo on Earth) và mọi bảng xe đều khắc câu “Trujillo vạn tuế”. Francisco Macias Nguema, nhà độc tài ở Equatorial Guinea từ năm 1968 đến 1979 cũng thế. Cũng tự xưng mình là Thượng đế. Dưới thời ông, biểu ngữ chính trong nước ghi “Không có Thượng đế nào khác ngoài Macias Nguema”. Saparmurat Niyazov, Tổng thống xứ Turkmenistan từ năm 1990 đến 2006 thì ra lệnh đổi tên 12 tháng trong năm theo tên ông và người thân trong gia đình của ông. Ông cũng viết sách và ra lệnh bất cứ người dân nào, để được thi lấy bằng lái xe, cũng phải thuộc lòng nguyên cả cuốn sách của ông. Đọc tiếp »

Luật Đất đai dưới mắt một sinh viên trẻ

0

Đăng ngày   20-04-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, Bùi Tín, Đỗ Thúy Hường

Cô sinh viên luật Đỗ Thúy Hường đã xuất hiện trên một blog tự do từ năm 2007. Bài báo đầu tiên của cô là «Tôi nghiên cứu về Luật Đất đai». Cô thuộc gia đình trong giới cầm quyền. Cô cho biết ông cô – không rõ ông nội hay ông ngoại – từng tham gia biên soạn Luật Đất đai đầu tiên năm 1988.

Gia đình nông dân Ðoàn Văn Vươn bị đưa ra xét xử tại Tòa án Nhân dân thành phố Hải Phòng, ngày 2/4/2013. Gia đình nông dân Ðoàn Văn Vươn bị đưa ra xét xử tại Tòa án Nhân dân thành phố Hải Phòng, ngày 2/4/2013.

Trong bài viết ấy cô Hường mạnh dạn nói lên chính kiến của mình, chỉ rõ cái hình thức «sở hữu đất đai là sở hữu của toàn dân» do đảng Cộng sản áp đặt cho nông dân là một điều phi pháp và trái đạo lý, vi phạm công bằng xã hội, cản trở con đường phát triển của nông nghiệp và đất nước. Lập luận của cô sâu sắc, tự tin.

Mới học năm thứ 2 trường Luật, chắc Hường lúc ấy chỉ mới 17, 18 tuổi. Hồi ấy đọc xong bài viết của cô, tôi nghĩ ngay đến câu thơ của nhà viết kịch Pháp Corneille, «Aux âmes bien nées la valeur n’attend point le nombre des années» («Có những con người đặc sắc mà giá trị không chờ những năm tháng»).

Từ đấy tôi thường vẫn nhớ đến Hường. Tôi băn khoăn không biết cô tốt nghiệp ra sao? Có bị cản trở gì không? Ra trường cô làm việc ở đâu, có theo nghề luật sư không? Một sinh viên có tư duy độc lập như Hường ở trong nước còn rất hiếm, không hiểu có bị lãnh đạo nhà trường kỳ thị không? Cô là một hạt giống trí thức dân chủ quý của đất nước, của dân tộc. Nhân tài mà đất nước ta đang cần chính là những nam nữ sinh viên có lòng với dân, có trí tuệ khai phóng như Hường vậy.
Đọc tiếp »

2 nhà hoạt động Việt Nam không được gặp giới chức ngoại giao Mỹ

0

Đăng ngày   17-04-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Tin tức, > Tin Việt nam, > VIDEO Tiếng Anh, Blogger

Hoa Kỳ bày tỏ lo ngại khi giới hữu trách Việt Nam không cho phép hai nhà đấu tranh dân chủ gặp một giới chức ngoại giao của Hoa Kỳ đến thăm Hà Nội để thảo luận về nhân quyền.

Hai nhà tranh đấu cho dân chủ: Bác sĩ Phạm Hồng Sơn và luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài. Hai nhà tranh đấu cho dân chủ: Bác sĩ Phạm Hồng Sơn và luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài.

Các giới chức Hoa Kỳ trước đó mời hai nhà tranh đấu cho dân chủ là bác sĩ Phạm Hồng Sơn và luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài, tham gia cuộc đối thoại về nhân quyền cùng với phó trợ lý ngoại trưởng Mỹ đặc trách nhân quyền Dan Baer.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Patrick Ventrell nói: “Chúng tôi cảm thấy bất bình khi được biết giới hữu trách Việt Nam ngăn không cho hai nhà hoạt động Nguyễn Văn Đài và Phạm Hồng Sơn gặp Phó Trợ lý Ngoại trưởng Dan Baer.”

Ông Ventrell nói tiếp rằng, tuy nhiên, ông Baer đã gặp được Linh mục Nguyễn Văn Lý, một trong những nhà bất đồng chính kiến nổi tiếng nhất Việt Nam, trong nhà tù.

x

Phó Trợ Lý Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Dan Baer.Phó Trợ Lý Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Dan Baer.


Phó Trợ Lý Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Dan Baer.
Ông Dan Baer đã đến Hà Nội để tham gia đối thoại nhân quyền hàng năm giữa hai nước.

Phát ngôn viên Ventrell cho biết hai bên đã đối thoại “thẳng thắn và xây dựng” về nhiều vấn đề, trong đó có tự do tôn giáo, tự do ngôn luận và các tù nhân, nhưng các giới chức Hoa Kỳ không cho biết những kết quả cụ thể.

Quan hệ giữa hai quốc gia cựu thù đã được cải thiện nhanh chóng kể từ khi bình thường hoá quan hệ ngoại giao năm 1995, song Hoa Kỳ nói rằng Việt Nam phải cải thiện cách đối xử với công dân của họ nếu muốn hợp tác chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ.

Những người chỉ trích trong Quốc hội Mỹ và các nhóm hoạt động cho rằng những lời kêu gọi thường xuyên của Hoa Kỳ về vấn đề nhân quyền vẫn chưa tạo ra được thay đổi nào ở Việt Nam.


>> US upset Vietnam dissidents blocked from meeting


>>> BOXITVIETNAM English

Đọc tiếp »

Mùa hè nóng bỏng

0

Đăng ngày   14-04-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, > Đảng CS VN, Blogger, Bùi Tín, Chính trị - xã hội

Hội nghị Trung ương lần thứ 5 -Khóa 11 năm 2012 – của Đảng Cộng sản Việt Nam đã báo động về sự thoái hóa của đảng về mặt đạo đức và khả năng lãnh đạo, về sự sa sút chất lượng đảng viên dẫn đến tình trạng «nhạt đảng», đặc biệt là sự sa sút niềm tin của nhân dân đối với đảng.

Tháng 5 tới dự kiến sẽ có cuộc họp lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Khóa 11 nhằm kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết của Hội nghị Trung ương 5 nói trên, tổng kết việc tự phê bình và phê bình trong toàn đảng, chấn chỉnh sự lãnh đạo, có thể bổ sung 1 hay 2 ủy viên vào Bộ Chính trị, thúc đẩy đà chấn chỉnh đảng. Tháng 5 cũng có cuộc họp Quốc hội thường lệ, nổi lên là việc bàn tiếp về sửa đổi Hiến pháp năm 1992, về cải cách cơ cấu kinh tế – tài chính, về biện pháp khẩn cấp giải quyết «núi nợ» của nhà nước và của các ngân hàng quốc doanh, nay đã tương đương với 24 tỷ đôla.

Do đó, mùa hè sắp tới sẽ cực kỳ nóng bỏng đối với Bộ Chính trị.
Đọc tiếp »

Thế nào là một bài luận văn hay?

0

Đăng ngày   14-04-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, Blogger, Giáo dục, Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc

I. Luận văn ở đại học và ở trung học
 
Nhận xét cho đại học là trường phổ thông cấp 4 nêu lên trong bài trước có thể đúng với tình hình giáo dục ở Việt Nam, tuy nhiên, ở các quốc gia tiên tiến, đại học là đại học, chứ không phải là một thứ trường cấp 3 nối dài. Trong phạm vi chúng ta đang bàn, viết luận văn ở đại học khác hẳn việc làm luận ở dưới trung học. Khác ở nhiều phương diện:

  1. Về yêu cầu, ở trung học, làm luận là một cách ‘trả bài’; ở đại học, viết luận văn là một cách kiểm tra năng lực nghiên cứu một cách độc lập, ở đó, sinh viên phải tự mình chọn lựa đề tài, tìm kiếm và sử dụng tài liệu ở ngoài bài giảng, với sự trợ giúp rất giới hạn của các thầy, cô giáo.
     
  2. Về quy mô, do tính chất đơn giản của nó, bài luận văn ở trung học thường ngắn, trong vòng trên dưới 500 từ, hoàn tất trong vòng một hay hai tuần; ở đại học, ngược lại, bài luận văn dài hơn, trung bình từ 1000 đến 3000 từ, được yêu cầu hoàn tất trong khoảng thời gian từ ba đến sáu, bảy tuần.
     
  3. Về phạm vi tư liệu, với yêu cầu và quy mô kể trên, ở trung học, học sinh chỉ cần tham khảo bài giảng, sách giáo khoa và một vài bài báo hay vài cuốn sách căn bản khác – thường là từ điển bách khoa; ở đại học, sinh viên cần phải đọc rộng hơn, từ bài giảng đến sách, báo và các tạp chí chuyên môn, có khi phải sử dụng cả đến những cuộc phỏng vấn trực tiếp do sinh viên tự thực hiện; hơn nữa, tất cả các tài liệu ấy phải được kén chọn cẩn thận: Chúng phải khả tín. 
     
  4. Về cách thức thể hiện, ở trung học, học sinh thường chỉ được đòi hỏi miêu tả hoặc kể lại một sự kiện hay một hiện tượng nào đó; ở đại học, sinh viên cần phải lý luận, phân tích và chứng minh một vấn đề với yêu cầu là phải làm sao thuyết phục được người đọc. 
  5. Về phương pháp luận, ở trung học, học sinh chỉ cần biết một số sự kiện chính liên hệ đến vấn đề mình phân tích; ở đại học, sinh viên thường được/bị đòi hỏi nhìn vấn đề ấy từ góc độ lý thuyết với một thứ ngôn ngữ mang nhiều tính khái niệm và từ góc độ lịch sử để thấy quá trình nhận thức về vấn đề ấy theo chiều lịch đại, tức theo thời gian. 

Ví dụ, về đề tài gia đình:
 

  • Ở trung học, người ta thường chỉ yêu cầu học sinh miêu tả một sinh hoạt, một cảnh tượng, hoặc một sự kiện nào đó liên quan đến đời sống gia đình mà học sinh ấy từng chứng kiến hoặc trực tiếp có kinh nghiệm. Có khi, tổng quát hơn, vẽ lại cây gia phả của một đại gia đình để thấy cấu trúc dòng họ và mối quan hệ mang tính đẳng cấp giữa các thế hệ.

 

  • Ở đại học, sinh viên được đòi hỏi nhìn gia đình không phải như một thực thể trước mắt với hình ảnh một người cha, một người mẹ và mấy đứa con quây quần với nhau quanh một bữa cơm tối hay trong phòng khách như chúng ta thường thấy trong sách báo cho trẻ em. Ngược lại, sinh viên phải nhìn gia đình như những con số thống kê (về các vụ đám cưới, các vụ ly dị, số con cái, v.v.), hoặc như một khái niệm trừu tượng về hôn nhân: nó được hình thành như thế nào trong lịch sử; nó có những chức năng gì, có những đặc điểm gì; có những quan hệ tương tác gì với các sinh hoạt khác như kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá, v.v..

 
Nhưng nhìn vấn đề như thế, sinh viên sẽ phát hiện ra một điều là gia đình có quan hệ chặt chẽ với các cơ chế xã hội khác, từ phương thức sản xuất đến chế độ chính trị, từ một phát kiến khoa học đến một trào lưu tư tưởng, v.v.. Bởi vậy, để giải thích vấn đề gia đình, dù muốn hay không, người ta cũng phải dựa trên những lý thuyết chính trị, xã hội hay văn hoá rộng hơn bản thân vấn đề gia đình. Lúc ấy sinh viên sẽ thấy là cách nhìn về gia đình sẽ khác hẳn nhau nếu người ta sử dụng những phương pháp luận khác nhau, chẳng hạn, cách nhìn của các nhà chức năng luận (functionalism) sẽ không giống các nhà mác xít (Marxism), lại càng không giống các nhà phê bình nữ quyền (feminism).
 
Chúng ta có thể tóm tắt những sự khác biệt giữa các bài luận văn ở trung học và đại học như sau:
 

  TRUNG HỌC ÐẠI HỌC
Yêu cầu Nhớ bài Khả năng nghiên cứu độc lập
Tư liệu Bài giảng & sách giáo khoa Bài giảng, sách giáo khoa & sách báo các loại
Thời gian 1, 2 tuần Từ 3 đến 6,7 tuần
Chiều dài 300 – 500 từ 1000 – 3000 từ
Phương pháp thể hiện Tự sự hay miêu tả Lý luận, phân tích, chứng minh
Tính chất Chủ quan, cảm tính Nặng về lý thuyết và phương pháp luận

 
                                               
II. Một bài luận văn hay
 
Với những điểm khác biệt kể trên, tiêu chuẩn đánh giá luận văn ở trung học và đại học khác hẳn nhau.
 
Ở trung học, vì chỉ nhắm tới việc kiểm tra kiến thức nên một bài luận văn “hay” thường có thể chỉ là một bài tường thuật trôi chảy và mạch lạc những gì thầy đã giảng trong lớp hoặc đã được trình bày trong các sách giáo khoa (textbook). Nếu người viết liên hệ những kiến thức ấy với kinh nghiệm của bản thân mình để bài luận có cảm xúc hơn thì lại càng hay.
 
Ở đại học, ngược lại, vì nhắm đến việc kiểm tra khả năng nghiên cứu độc lập, cho nên ở đây khả năng tìm kiếm và sử dụng tài liệu, phương pháp làm việc, óc phê bình và óc lý luận của người viết được coi là những tiêu chuẩn quan trọng nhất.
 
Nói chung, ở đại học, một bài luận văn đặc sắc cần phải đạt được một số yêu cầu tối thiểu như sau:

  1. Tập trung vào vấn đề. Cả bài viết dù cho dài cả 2000 – 3000 từ cũng chỉ tập trung vào việc làm sáng tỏ một vấn đề duy nhất.
     
  2. Trong cái gọi là “tập trung vào một vấn đề” ấy, điều quan trọng nhất là phải có một ý tưởng trung tâm được thể hiện qua một lập luận chặt chẽ và được củng cố bởi các bằng chứng thích hợp.
     
  3. Phải bao quát được những kiến thức căn bản và cập nhật nhất liên quan đến đề tài.
     
  4. Phải biết cách tìm kiếm, chọn lọc, phân tích và đánh giá các tài liệu mình sử dụng.
     
  5. Phải biết nhìn vấn đề từ nhiều góc cạnh khác nhau, qua nhiều cách diễn dịch khác nhau, với những ý kiến từ nhiều học giả khác nhau.
     
  6. Phải biết cách vận dụng các lý thuyết vào việc lý giải những vấn đề cụ thể.
     
  7. Phải được diễn đạt một cách trôi chảy, đúng phong cách học thuật (academic). Nghĩa là, về phương diện ngôn ngữ, phải sử dụng các từ trung tính (neutral) và phi ngã (impersonal), các kiểu câu phức và dài; về giọng điệu, phải trang trọng hơn là thân mật; về phong cách, phải thiên về phân tích hơn là ấn tượng, khách quan hơn là chủ quan, trí thức hơn là cảm xúc, lý luận chặt chẽ hơn là sự hùng hồn. 

III. Tiêu chuẩn chấm điểm
 
Ở Úc, hoặc ở Tây phương nói chung, khi ra đề luận, các giáo sư bao giờ cũng nêu rõ các yêu cầu và tiêu chí chấm điểm, ví dụ, về lập luận, cấu trúc, cách diễn đạt hoặc về cách trích dẫn. Có khi người ta còn yêu cầu rất cụ thể: Phải trích dẫn từ ít nhất năm hay bảy cuốn sách khác nhau; và khi trích dẫn, sinh viên cần phải trình bày theo phương pháp nào.
 
Căn cứ vào những tiêu chí ấy, mỗi giáo sư sẽ có một bảng thang điểm riêng. Ví dụ điểm dành cho một bài luận văn nào đó là 100. Nó có thể sẽ được phân bố đại khái như sau:
 

  Xuất sắc (High Distinction) Giỏi (Distinction) Khá (Credit) Trung bình (Pass) Kém (Fail)
Kiến thức 16-20% 14-16% 12-16% 10-12% Dưới 10%
Lập luận 16-20% 14-16% 12-16% 10-12% Dưới 10%
Kết cấu bài 16-20 % 14-16% 12-16% 10-12% Dưới 10%
Diễn đạt (chính tả, cách dùng từ & cách đặt câu) 16-20% 14-16% 12-16% 10-12% Dưới 10%
Trình bày (*) 16-20% 14-16% 12-16% 10-12% Dưới 10%
Tổng cộng 80-100% 70-80%** 60-70%** 50- 60%** Dưới 49%

 
Chú thích:
 
* Bao gồm cách trích dẫn và cách ghi các tài liệu được trích dẫn (references) cũng như tài liệu tham khảo nói chung (bibliography).
** Ở đây, tôi lấy số chẵn cho tiện. Thật ra, hạng giỏi phải là 70-79%, khá 60-69% và Trung bình 50-59%. Cũng xin lưu ý là ở mỗi đại học, điểm chuẩn cho mỗi thứ hạng có thể khác nhau. Ví dụ, điểm chuẩn của hạng Xuất sắc (High Distinction), có trường quy định là trên 80; có trường lại quy định là phải trên 85, v.v..
 
Xin lưu ý: bảng thang điểm ở trên chỉ là một ví dụ. Thường, các giáo sư không công bố bảng thang điểm này cho sinh viên biết. Tuy nhiên, trên thực tế, bất cứ giáo sư nào cũng dựa vào bảng thang điểm ấy để chấm bài. Có điều là tỉ lệ dành cho từng phần có thể thay đổi tuỳ từng giáo sư. Ví dụ, người coi trọng lập luận thì nâng số điểm dành cho phần đó lên cao hơn các phần khác một chút, ví dụ 25% thay vì 20% như trên; hay người coi trọng cách diễn đạt, cách viết văn thì cũng có thể nâng nó lên cao hơn tỉ lệ điểm dành cho các phần kiến thức, lập luận hay kết cấu một chút, v.v..
 
Cho dù bảng điểm ở trên chỉ là một ví dụ, nhưng nó cũng có thể giúp cho sinh viên hiểu cách chấm điểm của giáo sư thể hiện trong bảng đánh giá đính kèm vào bài luận văn trả lại cho sinh viên. Bảng đánh giá đó đại khái như sau:
 

  Xuất sắc Giỏi Khá Trung bình Kém
Kiến thức V        
Lập luận   V      
Kết cấu bài     V    
Diễn đạt     V    
Trình bày   V      

 
Qua bảng đánh giá trên chúng ta thấy:
 

  • Về phương diện kiến thức, bài viết được đánh giá rất cao, thuộc loại xuất sắc, có thể đạt điểm tối đa (ví dụ: 20% của bài luận văn).
  • Về phương diện lập luận, bài viết nằm phần cao nhất của “Giỏi”, tức khoảng 15-16%.
  • Về phương diện kết cấu, tức đối với yêu cầu về tính hệ thống, bài viết chỉ thuộc mức trung bình của hạng khá, có thể đạt khoảng 13-14%
  • Về phương diện diễn đạt, bài viết chỉ ở mức thấp nhất của hạng khá, có thể đạt khoảng  12 %.
  • Về phương diện trình bày, bày viết thuộc mức thấp của giỏi, có thể đạt 14%.

 
Như vậy, cộng tất cả số điểm trên lại, bài viết được khoảng từ 74 đến 76%, tức là nói chung, thuộc loại Giỏi (Distinction).

VOANEWS :

Truyền hình vệ tinh VOA Asia 13/4/2013

Mỗi Người Chúng Ta Là Một Chiến Sĩ Thông Tin

>> NGUỒN:

Đọc tiếp »

Lẩy Kiều, những tuyệt cú

0

Đăng ngày   13-04-2013 | do  bvnpost  | Mục  > Blogs, Bùi Tín, Thơ

Bùi Tín
Truyện Kiều được truyền miệng trong nhân dân vì có chứa nhiều hoàn cảnh, nhiều nhân tình thế thái phong phú khác nhau, để có thể so sánh, ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày của mỗi gia đình, mỗi thân phận con người. Nhân dân ta thuộc lòng Truyện Kiều, nhiều người có thể trích ra nhiều câu làm châm ngôn, nguyên tắc, quy luật, thể nghiệm của cuộc sống. Có không ít người nghiện việc «lẩy Kiều» như thế.

Gần đây tôi rất ưa 2 câu «lẩy Kiều»

Ma đưa lối quỷ đem đường,
lại tìm những chốn đoạn trường mà đi

Hai câu này nói lên tình trạng của 14 ông «vua tập thể» trong Bộ Chính trị cứ một mực bắt nhân dân phải theo con đường của chủ nghĩa Mác – Lê nin đã phá sản rõ rệt, trong khi chủ nghĩa Cộng sản, chủ nghĩa xã hội đã bị hầu như toàn thế giới lên án đã phạm tội ác chống nhân loại.
Đọc tiếp »